Ở Đơn Dương, "nhà kính" thực chất phần lớn là nhà màng: khung thép hoặc khung gỗ, mái lợp màng nilon nông nghiệp, vách bằng lưới chắn côn trùng. Kiểu nhà này che mưa, giảm sâu bệnh, giúp trồng cà chua, ớt ngọt, xà lách quanh năm. Điểm riêng của Đơn Dương so với Đà Lạt là gió: mùa khô gió thổi mạnh qua các thung lũng, nên khung và cách neo màng phải chắc hơn.
Dựng một nhà kính không chỉ tốn tiền khung và màng. Còn có chi phí thay màng định kỳ, sửa chữa sau gió bão, hệ thống tưới, thoát nước mái, công lao động, và cả chuyện xử lý nilon cũ. Nhiều người mới chỉ tính chi phí dựng ban đầu rồi bị động khi những khoản sau dồn tới.
Bài này tả các kiểu nhà thường gặp, cách nhà chịu gió và mưa, những rủi ro đã thấy ở vùng, các chi phí ẩn và chuyện rác nilon. Phần giấy tờ khi dựng nhà kính trên đất nông nghiệp thuộc mục thủ tục và đời sống của trang.
Các kiểu mái che thường gặp
Bảng phân biệt các kiểu nhà che hay gặp ở vùng rau Đơn Dương. Tên gọi trong dân gian không thống nhất, nhiều người gọi chung tất cả là nhà kính.
| Kiểu | Cấu tạo chính | Thường trồng gì | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Nhà lưới | khung, mái và vách đều là lưới | rau ăn lá, cây giống | chắn côn trùng, giảm nắng, không che được mưa |
| Nhà màng mái vòm | khung thép mạ cong, mái màng nilon, vách lưới | cà chua, ớt ngọt, dưa leo | phổ biến nhất, chịu gió khá nếu neo chắc |
| Nhà màng mái răng cưa | nhiều nhịp mái so le, có khe thông gió | cà chua, ớt ngọt, hoa | thoát nhiệt tốt, khung phức tạp hơn |
| Nhà khung gỗ, tre | cột gỗ hoặc tre, mái màng | rau các loại, hộ nhỏ | rẻ, dựng nhanh, nhưng mau xuống cấp và yếu khi gió lớn |
| Mái che tạm thấp | vòm thấp phủ màng trên luống | cây con, rau ăn lá đầu vụ | dùng ngắn hạn, dễ tháo lắp |
Nhà có vách kính thật như ở các nước ôn đới rất hiếm ở vùng này vì chi phí cao và không cần thiết với khí hậu cao nguyên. Cái mà người trồng cần chủ yếu là che mưa, chắn côn trùng và điều hoà ánh sáng, nhà màng làm được những việc ấy với chi phí vừa phải hơn.
Chọn chỗ và hướng dựng nhà kính
Đất bằng ở đáy thung lũng là chỗ dễ dựng nhà kính nhất, nhưng cũng là chỗ dễ ngập và đọng khí lạnh nhất. Người làm lâu năm thường chọn vạt đất bằng hơi cao hơn đáy một chút, có lối thoát nước tự nhiên, gần đường để xe chở vật tư và nông sản ra vào, và gần nguồn nước hoặc có chỗ đào ao chứa.
Hướng nhà cũng cần tính. Nhà đặt sao cho nhận ánh sáng đều suốt ngày, không bị đồi hay cây lớn che khuất buổi sáng. Đồng thời đầu hồi, nơi chịu gió mạnh nhất, nên được gia cố hoặc đặt hướng sao cho gió chính không đập thẳng vào mặt rộng của mái. Hai yêu cầu này đôi khi mâu thuẫn, và người dựng phải chọn theo đặc điểm của từng khu đất.
Ở đất dốc, nhà kính cần san nền thành bậc, mỗi bậc một dãy nhà, kèm tường chắn và rãnh thoát nước giữa các bậc. San nền không cẩn thận dễ gây sạt lở trong mùa mưa, nhất là khi nước mái dồn xuống taluy. Trước khi san ủi, nên hỏi về quy định sử dụng đất và giữ lại thảm cỏ, cây ở mép dốc để giữ đất.
Cuối cùng là khoảng cách với hàng xóm và với đường. Nhà kính dựng sát ranh đất sẽ đổ nước mái sang ruộng người khác, che nắng vườn bên cạnh, hoặc lấn lối đi chung. Chừa khoảng trống làm rãnh và lối đi quanh nhà vừa tiện cho việc chăm sóc, sửa chữa, vừa tránh va chạm về sau. Nhiều mâu thuẫn ở các xóm nhà kính bắt nguồn từ chính những mét đất ranh giới này.
Vì sao Đơn Dương phải tính gió kỹ hơn
Đơn Dương nằm sát mép đông của cao nguyên, nơi gió mùa đông bắc trong mùa khô thổi từ phía biển lên qua các khe núi. Những tháng đầu năm, gió có thể thổi mạnh liên tục nhiều ngày, nhất là ở các thung lũng mở về hướng gió và vùng gần đèo. Trong mùa mưa, những cơn dông kèm gió giật bất chợt cũng gây thiệt hại.
Mái nhà màng giống như một cánh buồm lớn. Gió thổi ngang tạo lực đẩy, gió luồn vào trong qua cửa hở hay chỗ màng rách tạo lực nâng mái từ dưới lên. Nếu chân cột không chôn đủ sâu, móng không đủ nặng, hoặc màng không được kẹp chặt vào nẹp, một trận gió có thể làm rách màng, giật bung từng nhịp, thậm chí làm đổ cả dãy khung.
Kinh nghiệm của những người làm lâu năm là đặt hướng nhà hợp với hướng gió chính, gia cố các nhịp đầu hồi đón gió, căng màng thật thẳng không để chùng, kiểm tra nẹp kẹp trước mùa gió và khi trời báo dông thì đóng kín cửa để gió không lọt vào trong. Những vườn ở chỗ trống trải còn trồng hàng cây chắn gió quanh khu nhà kính.
Mưa lớn, mưa đá và nước từ mái nhà
Mùa mưa, nước trên mái nhà màng không thấm xuống đất mà chảy dồn xuống máng và ra rãnh. Một khu nhà kính lớn biến cả mảng đất thành bề mặt không thấm, nên khi mưa to, lượng nước chảy tràn về chỗ trũng tăng lên rất nhanh. Rãnh thoát nước nhỏ, bị lấp bởi đất và rác nilon thì nước tràn vào ruộng, vào đường, vào nhà dân phía dưới.
Vì vậy, ngoài chuyện giữ cho nhà kính của mình không ngập, người dựng nhà kính cũng cần nghĩ tới hàng xóm phía dưới: làm rãnh đủ rộng, có hố lắng hay ao chứa để giữ bớt nước mưa, không đổ nước thẳng ra đường. Nhiều hộ tận dụng ngay nước mái để chứa vào ao lót bạt, vừa giảm ngập vừa có nước tưới mùa khô.
Mưa đá thỉnh thoảng xảy ra ở cao nguyên Lâm Đồng, thường kèm dông vào giao mùa. Hạt đá có thể đục thủng màng, làm dập nát cây bên trong. Không có cách phòng hoàn toàn; điều làm được là giữ màng còn tốt, căng đúng kỹ thuật để màng đàn hồi, và chuẩn bị sẵn vật tư để vá nhanh sau đợt mưa. Một số người mua bảo hiểm nông nghiệp nếu có sản phẩm phù hợp.
Sau mỗi đợt mưa lớn, nên đi một vòng kiểm tra các máng nước có bị tắc lá, rác hay không, nước có đọng thành túi trên mái màng không. Túi nước đọng làm màng võng xuống, căng rách và có thể kéo sập cả nhịp khung nếu để lâu.
Những chi phí ít ai tính khi dựng nhà kính
Thay màng định kỳ. Màng nilon nông nghiệp lão hoá dưới nắng, ngả màu, giòn và giảm ánh sáng sau vài năm. Thay màng cho cả khu là khoản chi lớn lặp lại, cần để dành từ trước.
Sửa chữa sau gió, mưa đá. Chi phí không định trước nhưng gần như năm nào cũng có ở mức nhỏ hoặc lớn. Một trận gió có thể xoá sạch lợi nhuận của nhiều tháng.
Hệ thống tưới và điện. Bơm, ống, béc nhỏ giọt, bồn pha phân, bộ hẹn giờ cần bảo trì, thay thế; tiền điện bơm nước mùa khô không nhỏ.
Giá thể và cây giống mỗi vụ. Nếu trồng trên giá thể, giá thể phải thay sau một số vụ; cây giống ghép mua mỗi vụ cũng là khoản đáng kể.
Lao động. Nhà kính cần nhiều công chăm hơn ruộng ngoài trời: tỉa cành, treo dây, hạ dây, thụ phấn, hái nhiều đợt. Thuê người hay tự làm đều phải tính công.
Lãi vay. Nhiều hộ vay vốn để dựng nhà kính. Khi giá nông sản xuống kéo dài, tiền lãi vẫn phải trả đều, đây là áp lực lớn nhất với hộ nhỏ.
Thu dọn, xử lý vật tư cũ. Màng cũ, lưới rách, giá thể đã dùng, ống tưới hỏng đều cần nơi xử lý, không thể đốt hay vứt xuống suối.
Một ví dụ giả định về cách tính
Để hình dung, hãy lấy một ví dụ giả định đơn giản. Một hộ dựng nhà màng trồng cà chua với chi phí ban đầu là A. Mỗi năm họ phải chi thêm B cho cây giống, phân, giá thể, điện, nước, công; cứ vài năm lại chi C để thay màng; và trung bình mỗi năm mất D cho sửa chữa sau gió mưa. Nếu vay vốn, cộng thêm E là tiền lãi.
Doanh thu mỗi năm là sản lượng nhân với giá bán bình quân, mà giá bán chính là thứ khó đoán nhất. Bài toán chỉ có lời khi doanh thu trung bình nhiều năm, kể cả những năm giá xấu, lớn hơn tổng B, D, E cộng với phần chia đều của A và C theo số năm sử dụng. Nhiều người chỉ so doanh thu một vụ giá tốt với chi phí năm đầu, nên thấy rất hấp dẫn.
Cách làm thận trọng là tính với giá bán thấp hơn mức bình thường, xem có trụ được không; dựng diện tích vừa sức, mở rộng dần; và nếu có thể, tìm đầu ra theo hợp đồng trước khi đầu tư lớn. Ví dụ này không có con số vì giá vật tư và giá nông sản thay đổi liên tục, bạn nên tự điền số thật của mình.
Rác nilon và vật tư cũ: chuyện chung của cả vùng
Khi nhà kính phủ kín nhiều thung lũng, lượng màng cũ, lưới rách, ống tưới hỏng, bao bì phân bón thải ra mỗi năm rất lớn. Đốt nilon ngoài ruộng gây khói độc, vứt xuống suối làm tắc dòng chảy, lấp rãnh thoát nước, gây ngập cục bộ khi mưa lớn. Chuyện rác nông nghiệp vì vậy không còn là việc riêng của từng hộ.
Một số nơi trong vùng đã có người thu mua màng cũ, nhựa cũ để tái chế; một số hộ tận dụng màng cũ phủ luống, che nông cụ. Phần còn lại cần được gom về điểm tập kết theo hướng dẫn của xã. Riêng vỏ chai lọ, bao gói thuốc bảo vệ thực vật là chất thải nguy hại, phải bỏ vào bể chứa riêng đặt ngoài đồng chứ không trộn với rác thường.
Người mới dựng nhà kính nên hỏi trước ở xã và hàng xóm về điểm thu gom vật tư cũ trong vùng, để ngay từ đầu có chỗ đưa rác đi, tránh tình trạng chất đống quanh vườn rồi gió thổi bay khắp nơi.
Câu hỏi thường gặp
Nhà kính ở Đơn Dương dùng được bao lâu?
Khung thép mạ dựng đúng kỹ thuật có thể dùng nhiều năm. Màng mái thì ngắn hơn nhiều, thường vài năm phải thay vì lão hoá dưới nắng. Nhà khung gỗ, tre xuống cấp nhanh hơn. Tuổi thọ thực tế phụ thuộc chất lượng vật tư, cách căng màng và số trận gió lớn mà nhà phải chịu.
Có nên dựng nhà kính khung gỗ cho rẻ không?
Khung gỗ, tre rẻ và dựng nhanh, hợp với hộ ít vốn muốn làm thử. Đổi lại, khung mau mục, yếu khi gió lớn, phải sửa thường xuyên. Ở những thung lũng gió mạnh của Đơn Dương, nhiều người chọn khung thép cho phần đầu hồi đón gió dù phần còn lại vẫn làm khung đơn giản.
Nhà kính bị gió làm rách màng thì xử lý thế nào?
Trước hết đóng kín cửa và các chỗ hở để gió không lùa vào nâng mái thêm. Sau khi gió dịu, vá chỗ rách nhỏ bằng băng keo chuyên dùng cho màng nông nghiệp, chỗ rách lớn thay tấm mới. Kiểm tra lại toàn bộ nẹp kẹp, vì một chỗ lỏng thường kéo theo nhiều chỗ khác.
Nhà lưới và nhà màng khác nhau ở điểm nào?
Nhà lưới chỉ dùng lưới cho cả mái và vách, chắn côn trùng và giảm nắng nhưng mưa vẫn lọt qua. Nhà màng có mái nilon che mưa hoàn toàn, vách thường là lưới. Rau ăn lá, cây giống hay dùng nhà lưới; cà chua, ớt ngọt cần che mưa nên dùng nhà màng.
Dựng nhà kính có làm ngập nhà hàng xóm không?
Có thể, nếu nước mưa từ mái chảy dồn mà không có rãnh và chỗ chứa phù hợp. Một khu nhà kính lớn làm lượng nước chảy tràn tăng mạnh khi mưa to. Người dựng nên làm rãnh thoát đủ rộng, ao hoặc hố chứa nước mái, và bàn với hàng xóm về hướng thoát nước chung.
Có hỗ trợ nào khi dựng nhà kính không?
Tuỳ từng giai đoạn, tỉnh có thể có chính sách hỗ trợ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc cho vay ưu đãi qua ngân hàng chính sách, ngân hàng nông nghiệp. Điều kiện và mức hỗ trợ thay đổi theo thời gian, nên hỏi bộ phận nông nghiệp của xã và ngân hàng trước khi lập kế hoạch.