DonDuong.comĐơn Dương
Lịch sử và tên gọi

Hồ Đa Nhim trong lịch sử Đơn Dương: công trình làm đổi một thung lũng

Đập và hồ Đa Nhim xây đầu thập niên 1960 đã đổi cảnh quan và đời sống thung lũng Đơn Dương. Vì sao hồ có hai tên, công trình ra đời thế nào và để lại gì cho vùng.

Calm highland reservoir at sunrise with pine covered hills reflected in still water, a long earthen dam line in the distance and a lone fishing boat near the shore

Hồ Đa Nhim, nhiều người gọi là hồ Đơn Dương, là hồ chứa hình thành khi người ta đắp đập chặn sông Đa Nhim ở phía bắc thung lũng Đơn Dương vào đầu thập niên 1960. Nước hồ được dẫn qua núi sang sườn phía đông để chạy nhà máy thuỷ điện ở chân đèo, thuộc vùng Ninh Thuận cũ, nay là tỉnh Khánh Hoà; hồ và đập thì nằm trên đất Đơn Dương, nay thuộc xã D'Ran.

Công trình này là một trong những mốc làm đổi cảnh quan và đời sống của vùng mạnh nhất thế kỷ XX, sau tuyến đường sắt. Bài viết kể lại công trình từ góc lịch sử vùng đất: vì sao chọn nơi này, thung lũng trước và sau khi có hồ, những cái tên gắn với hồ. Phần vận hành thuỷ điện và kinh tế có trong chuyên mục kinh tế của trang.

Vì sao chọn sông Đa Nhim

Nhìn trên địa hình, vùng Đơn Dương có một đặc điểm hiếm: thung lũng nằm ở độ cao lớn, nhưng chỉ cách vùng đồng bằng duyên hải một dãy núi dốc đứng. Nếu giữ nước ở thung lũng rồi dẫn xuyên núi xuống phía đông, dòng nước sẽ rơi qua một độ chênh rất lớn trên một quãng ngắn. Đó là điều kiện lý tưởng cho thuỷ điện, cho phép tạo ra nhiều điện năng mà không cần một hồ chứa quá rộng.

Sông Đa Nhim chảy qua thung lũng với lưu lượng đủ lớn, lại có những đoạn hẹp thuận lợi để đắp đập. Người ta tính toán xây một đập ở phía bắc vùng Đơn Dương, tạo hồ chứa, rồi khoan một đường hầm dẫn nước xuyên qua núi, nối với đường ống áp lực đổ xuống nhà máy ở chân đèo phía Sông Pha. Ý tưởng khai thác độ chênh này đã được nhắc từ trước, nhưng chỉ thành hiện thực vào đầu thập niên 1960.

Công trình được xây dựng bằng nguồn vốn bồi thường chiến tranh của Nhật Bản, với sự tham gia của các kỹ sư, công ty Nhật. Nhà máy hoàn thành giữa thập niên 1960, thường được nhắc là năm 1964, và trong nhiều năm là một trong những nhà máy thuỷ điện lớn nhất miền Nam. Với người dân Đơn Dương thời ấy, những năm xây dựng là những năm thung lũng đông người, xe máy móc, lán trại công nhân.

Thung lũng trước và sau khi có hồ

Trước khi có đập, đoạn sông Đa Nhim ở phía bắc vùng Đơn Dương chảy giữa những bãi bằng và sườn đồi, nơi có ruộng, có làng, có lối đi ven sông. Khi đập hoàn thành và nước dâng, một phần đất thấp ven sông chìm xuống thành lòng hồ. Những ai sống ở vùng ngập phải chuyển lên chỗ cao hơn hoặc đi nơi khác; số hộ và địa điểm cụ thể nên tìm trong tài liệu lưu trữ hoặc hỏi người cao tuổi, vì các bài lan truyền ghi rất khác nhau.

Sau khi có hồ, cảnh quan phía bắc thung lũng đổi hẳn: một mặt nước rộng, bờ hồ quanh co ôm lấy các đồi thông, những vạt đất ven hồ lộ ra vào mùa khô khi mực nước hạ. Người dân ven hồ có thêm nghề đánh bắt cá nước ngọt, chăn thả gia súc trên bãi ven hồ mùa khô, và gần đây là đón khách tham quan, cắm trại.

Cảnh hồ cũng trở thành phông nền quen thuộc trong ảnh cưới, ảnh gia đình của người địa phương, và trong ký ức của những ai từng đi xe đường Đà Lạt xuống duyên hải theo hướng này.

Hồ cũng đổi cách đi lại. Một số lối đi cũ ven sông không còn; đường bộ phải vòng quanh hồ. Với các thôn ở vùng Lạc Xuân ven hồ, mặt nước vừa là nguồn sống vừa là ranh giới tự nhiên, khiến nhiều thôn có cảm giác tách biệt hơn so với khu phố chợ D'Ran dù cách không xa.

Hai cái tên, một mặt hồ

Hồ chứa này được gọi bằng nhiều tên khác nhau tuỳ người nói và tuỳ thời. Bảng dưới gom các cách gọi thường gặp để người đọc không nghĩ đó là những hồ khác nhau.

Tên gọiGốc của tênAi hay dùng
Hồ Đa NhimTheo tên sông Đa Nhim và tên công trình thuỷ điệnTài liệu kỹ thuật, sách giáo khoa, ngành điện
Hồ Đơn DươngTheo tên vùng, tên huyện cũNgười địa phương, khách du lịch, nhiều bản tin
Đập Đa NhimChỉ con đập, đôi khi dùng chỉ cả khu hồNgười dân quanh vùng khi chỉ đường
Thuỷ điện Đa NhimChỉ cả hệ thống đập, hầm dẫn nước, nhà máyNgành điện; nhà máy ở chân đèo, ngoài địa bàn Đơn Dương

Điều hay gây hiểu lầm nhất là nghĩ nhà máy thuỷ điện nằm ở Đơn Dương. Thực tế, hồ và đập ở Đơn Dương, còn nhà máy ở chân đèo phía đông, vùng Sông Pha của Ninh Thuận cũ, nay thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Một công trình nối cao nguyên với duyên hải

Hệ thống Đa Nhim là một ví dụ rõ về sự gắn bó giữa vùng Đơn Dương và vùng duyên hải phía đông. Nước giữ ở cao nguyên, sau khi chạy qua tua bin ở chân đèo, tiếp tục được dùng cho tưới tiêu ở vùng đồng bằng khô hạn quanh Phan Rang. Như vậy, một phần nước sông Đa Nhim vốn chảy về hệ thống sông Đồng Nai ở phía nam nay được chuyển sang lưu vực phía đông.

Sự gắn bó ấy làm cho chuyện quản lý nước trở thành chuyện liên vùng. Mùa khô, khi nhu cầu nước tưới ở cả hai phía đều cao, việc điều tiết hồ luôn được cân nhắc giữa phát điện, tưới cho đồng bằng và nhu cầu của chính vùng Đơn Dương. Người trồng rau quanh hồ quen theo dõi mực nước, vì nó ảnh hưởng đến các trạm bơm và nguồn nước tưới.

Từ góc lịch sử, có thể xem đường sắt răng cưa thời Pháp và hệ thống Đa Nhim thời sau là hai lần người ta tìm cách chế ngự độ chênh giữa cao nguyên và đồng bằng ở đúng vùng này: lần đầu để đưa người và hàng lên cao, lần sau để đưa nước và điện xuống thấp.

Những gì công trình để lại cho vùng Đơn Dương

Một mặt nước lớn. Hồ trở thành cảnh quan đặc trưng của phía bắc vùng, nơi người dân câu cá, chăn thả gia súc, và khách ghé ngắm cảnh trên đường Đà Lạt – duyên hải.

Cái tên quen thuộc với cả nước. Nhờ công trình, chữ Đa Nhim đi vào sách vở, bản tin, khiến nhiều người biết đến vùng Đơn Dương dù chưa từng đến.

Thay đổi nơi cư trú. Một số khu dân cư ven sông phải dời lên chỗ cao, tạo nên những thôn có lịch sử gắn với việc lập hồ.

Đường sá, điện. Thời xây dựng, đường vào công trình được mở rộng; về sau vùng có lưới điện sớm hơn nhiều nơi trên cao nguyên.

Câu chuyện chung với duyên hải. Nước Đa Nhim nuôi cả đồng ruộng dưới chân đèo, khiến hai vùng khác hẳn khí hậu có một mối dây chung.

Hồ Đa Nhim hôm nay trong đời sống người địa phương

Với người sống quanh hồ, Đa Nhim trước hết là một phần cảnh quen hằng ngày. Sáng sớm có người chèo thuyền nhỏ thả lưới, chiều có trâu bò thong thả trên bãi cỏ ven hồ mùa nước rút, cuối tuần có những nhóm bạn trẻ từ Đà Lạt xuống cắm trại. Mùa mưa, mặt hồ đầy, nước tràn gần tới các bãi cỏ; mùa khô, nước rút, lộ ra những dải đất bạc màu mà người già bảo là dấu vết của thung lũng cũ.

Đập và khu vực công trình là nơi được quản lý, có những khu vực không được vào hoặc hạn chế đi lại vì lý do an toàn. Người đến ngắm hồ nên đi theo đường công cộng, không trèo lên thân đập hay vào khu vực có biển cấm, không bơi ở những chỗ không biết rõ độ sâu. Mùa mưa, mực nước và dòng chảy quanh các cửa xả có thể thay đổi nhanh.

Cách ghé hồ, mùa nào đẹp, nên đi thế nào có trong chuyên mục điểm đến của trang. Ở đây chỉ cần nhớ: hồ không chỉ là một điểm ngắm cảnh, mà là dấu mốc lịch sử đã thay đổi bộ mặt và nhịp sống của cả một thung lũng.

Ký ức về những năm xây dựng

Những người lớn tuổi ở Đơn Dương còn nhớ những năm công trình đang xây: đường sá bụi đỏ, xe tải, xe ủi chạy suốt ngày, lán trại công nhân dựng dọc bờ sông, chuyên gia nước ngoài đi lại trong vùng. Với một thung lũng nông nghiệp vốn yên tĩnh, đó là thời kỳ náo nhiệt hiếm có, nhiều người trong vùng tìm được việc làm tạm thời ở công trường.

Khi công trình xong, phần lớn công nhân rời đi, nhưng một số người ở lại lập gia đình, làm nông, buôn bán. Như thời đường sắt, mỗi công trình lớn lại để lại cho vùng Đơn Dương một lớp cư dân mới. Ghi chép về những năm này còn ít; hồi ức của người trong cuộc là nguồn quý giúp hiểu đời thường của thung lũng trong một giai đoạn đổi thay lớn.

Nếu gia đình bạn có người từng làm ở công trường Đa Nhim, những tấm ảnh, giấy tờ, kỷ vật thời ấy đáng được giữ gìn. Chúng là tư liệu hiếm về một giai đoạn mà sách vở chủ yếu ghi bằng con số kỹ thuật, ít khi kể chuyện con người.

Hồ chứa và nghề rau: mối liên hệ ít người để ý

Khi nói về vùng rau Đơn Dương, người ta hay nhắc đất, khí hậu và tay nghề người trồng, ít khi nhắc đến nước. Thực ra, một vùng trồng rau quanh năm cần nguồn nước ổn định, nhất là trong những tháng mùa khô kéo dài trên cao nguyên. Hệ thống sông suối, hồ chứa lớn nhỏ và các công trình thuỷ lợi trong vùng là nền tảng thầm lặng cho những cánh đồng rau xanh tốt cả năm.

Hồ Đa Nhim chủ yếu phục vụ phát điện và tưới cho vùng duyên hải, nhưng sự có mặt của một hồ lớn cùng các hồ, đập nhỏ khác trong vùng đã góp phần định hình cách người Đơn Dương làm nông: đào ao, khoan giếng, kéo ống từ suối, lắp tưới nhỏ giọt, tận dụng từng nguồn nước. Những năm khô hạn, chuyện nước tưới luôn là chuyện lớn nhất của các thôn.

Nhìn từ góc lịch sử, hai công trình lớn của thế kỷ XX — đường sắt và hồ Đa Nhim — cùng với tay nghề của nhiều lớp người trồng rau, là ba thứ đã biến một thung lũng ruộng nước của buôn làng thành vùng rau cao nguyên nổi tiếng như hôm nay.

Câu hỏi thường gặp

Hồ Đa Nhim và hồ Đơn Dương có phải là một không?

Đúng vậy, đây là cùng một hồ chứa. Tên Đa Nhim lấy theo tên sông và tên công trình thuỷ điện, còn tên Đơn Dương lấy theo tên vùng. Người địa phương và nhiều bản tin dùng lẫn cả hai cách gọi.

Hồ Đa Nhim nay thuộc xã nào?

Hồ và đập Đa Nhim nằm ở phía bắc vùng Đơn Dương, phần lớn quanh khu vực Lạc Xuân và D'Ran cũ, nay thuộc xã D'Ran, tỉnh Lâm Đồng. Một phần bờ hồ có thể giáp các đơn vị lân cận; ranh giới chi tiết nên tra bản đồ địa chính.

Nhà máy thuỷ điện Đa Nhim có nằm ở Đơn Dương không?

Không. Nhà máy nằm ở chân đèo phía đông, vùng Sông Pha của Ninh Thuận cũ, nay thuộc tỉnh Khánh Hoà. Đơn Dương có hồ chứa và đập; nước được dẫn qua đường hầm xuyên núi rồi đổ xuống nhà máy.

Thuỷ điện Đa Nhim được xây khi nào?

Công trình được xây dựng đầu thập niên 1960 bằng nguồn vốn bồi thường chiến tranh của Nhật Bản và hoàn thành giữa thập niên ấy, thường được nhắc là năm 1964. Trong nhiều năm, đây là một trong những nhà máy thuỷ điện lớn nhất miền Nam.

Có được bơi hay chèo thuyền trên hồ không?

Khu vực đập và công trình có những chỗ hạn chế đi lại vì an toàn. Bạn nên đi theo đường công cộng, không trèo lên thân đập, không vào nơi có biển cấm và không bơi ở chỗ không rõ độ sâu. Hỏi người địa phương hoặc chính quyền xã nếu muốn hoạt động trên mặt hồ.

Vì sao mực nước hồ thay đổi theo mùa?

Hồ được điều tiết để phát điện và cấp nước tưới cho cả vùng duyên hải lẫn quanh vùng Đơn Dương. Mùa mưa nước đầy, mùa khô nước rút do vừa ít mưa vừa phải xả phục vụ sản xuất, nên ven hồ lộ ra những bãi đất rộng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.