DonDuong.comĐơn Dương
Lịch sử và tên gọi

Những đợt người lên Đơn Dương lập nghiệp và cách vùng rau ra đời

Từ công nhân đường sắt thời Pháp, các khu dinh điền cuối thập niên 1950, vùng kinh tế mới sau 1975 đến lao động nhà kính hôm nay — các lớp cư dân đã làm nên vùng rau.

Over-the-shoulder view of an elderly farmer in a wool hat looking across terraced cabbage fields and greenhouses in a wide valley at golden hour, pine hills far behind

Bên cạnh đồng bào Chu Ru, K'Ho sống từ trước, cư dân Đơn Dương hôm nay là kết quả của nhiều đợt người lên lập nghiệp: người làm đường sắt, làm vườn thời Pháp; các khu dinh điền người Kinh lập cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960; những gia đình lên vùng kinh tế mới sau năm 1975; và lớp lao động, nhà đầu tư nông nghiệp đến trong mấy chục năm gần đây.

Mỗi đợt người mang theo giọng nói, tập quán, kinh nghiệm làm nông của quê cũ, và chính sự cộng dồn ấy đã làm nên vùng rau cao nguyên nổi tiếng. Bài này kể lại các lớp cư dân theo trình tự thời gian, ở mức chắc chắn được; quê gốc cụ thể của từng thôn, từng xã nên hỏi người cao tuổi hoặc tra tài liệu địa phương.

Lớp đầu tiên: người theo đường sắt và con đường lên Đà Lạt

Khi người Pháp mở đường bộ và đường sắt lên cao nguyên qua vùng Dran, những người Kinh đầu tiên đến vùng này phần lớn là công nhân, thợ thuyền, người làm cho các công trình giao thông, cùng những người buôn bán đi theo. Họ dựng nhà quanh nhà ga, quanh các trạm dừng, mở quán, mở tiệm, dần hình thành khu phố D'Ran.

Cùng thời, một số người thử trồng rau, cây ôn đới để bán cho Đà Lạt và cho những người làm đường. Đó là những thửa vườn đầu tiên của nghề trồng rau hàng hoá ở thung lũng, kỹ thuật học từ người Pháp và từ kinh nghiệm làm vườn của người Việt. Quy mô còn nhỏ, nhưng đã gieo mầm cho một nghề sẽ trở thành nghề chính của cả vùng.

Lớp cư dân này không đông và nhiều người không ở lại lâu. Dấu vết của họ còn lại chủ yếu ở khu phố quanh ga cũ và trong ký ức của một số gia đình có ông bà từng làm cho đường sắt. Câu chuyện của họ là phần mở đầu của lịch sử người Kinh ở Đơn Dương.

Một số gia đình ở khu phố cũ quanh ga vẫn giữ được ảnh chụp, giấy tờ làm việc của ông bà thời đường sắt. Những kỷ vật ấy là tư liệu hiếm, giúp người đời sau hình dung được đời sống của lớp cư dân đầu tiên ở thung lũng.

Cuối thập niên 1950: các khu dinh điền

Đợt lớn nhất trước năm 1975 diễn ra từ cuối thập niên 1950, khi chính quyền thời ấy triển khai chương trình dinh điền, đưa người Kinh lên lập các khu dân cư mới ở vùng cao nguyên. Nhiều gia đình từ miền Trung và những người di cư từ miền Bắc sau năm 1954 được đưa lên các vùng đất bằng, gần đường giao thông ở Đơn Dương. Những khu dân cư mang tên Hán Việt như Lạc Xuân, Lạc Lâm, Quảng Lập, Thạnh Mỹ gắn với giai đoạn này hoặc các giai đoạn gần đó.

Người dinh điền nhận đất, khai hoang, làm nhà, ban đầu trồng lúa, hoa màu để tự túc, rồi dần chuyển sang trồng rau bán cho Đà Lạt và các đô thị dưới xuôi. Kinh nghiệm làm nông thâm canh của người đồng bằng, cộng với khí hậu mát quanh năm của thung lũng, tạo điều kiện cho nghề rau phát triển.

Chương trình dinh điền cũng gây ra những thay đổi lớn với cộng đồng bản địa: đất canh tác, đất rẫy truyền thống bị thu hẹp, buôn làng phải dời đi hoặc thu gọn. Đây là một phần lịch sử cần được nhìn nhận đầy đủ khi nói về sự hình thành vùng Đơn Dương hiện đại.

Thập niên 1960 – 1970: vùng rau lớn dần

Trong những năm 1960, rau Đơn Dương bắt đầu có mặt đều đặn ở các chợ lớn phía nam. Đường bộ qua đèo Ngoạn Mục xuống duyên hải và đường lên Đà Lạt rồi đi Sài Gòn giúp nông sản đi xa hơn. Những loại rau ôn đới như bắp cải, cà rốt, su hào, khoai tây, hành tây vốn khó trồng ở đồng bằng trở thành thế mạnh của vùng.

Chiến tranh làm việc đi lại, buôn bán khó khăn, nhưng nhu cầu rau của các đô thị vẫn lớn, giữ cho nghề rau sống được. Kỹ thuật canh tác dần cải tiến: dùng phân bón, giống mới, tưới bằng máy bơm, luân canh để giảm sâu bệnh. Những gia đình làm rau giỏi trong giai đoạn này trở thành lớp nông dân nòng cốt của vùng.

Thương lái cũng xuất hiện nhiều hơn, mua rau tại vườn, gom về các điểm tập kết rồi chở đi. Mạng lưới vựa, mối hàng hình thành từ thời ấy là tiền thân của hệ thống thu mua rau rộng khắp hôm nay.

Cũng trong giai đoạn này, công trình Đa Nhim hoàn thành, đem đến thung lũng một hồ chứa lớn và lưới điện sớm hơn nhiều nơi khác trên cao nguyên. Lớp công nhân xây dựng công trình, một số ở lại, góp thêm vào thành phần cư dân của vùng.

Các lớp cư dân theo thời gian

Bảng tóm lược các đợt người đến Đơn Dương. Quê gốc ghi theo nhóm chung; quê gốc cụ thể của từng thôn rất đa dạng và nên tìm hiểu tại chỗ.

Giai đoạnAi đếnDấu vết còn thấy
Trước thế kỷ XXĐồng bào Chu Ru, K'Ho đã sống từ trướcTên làng, tên suối gốc bản địa, nghề gốm, ruộng nước ven sông
Thời PhápCông nhân đường sắt, thợ, người buôn bán, người làm vườnKhu phố quanh ga D'Ran
Cuối thập niên 1950 – 1960Người dinh điền từ miền Trung, người di cư từ miền BắcCác khu dân cư tên Hán Việt, nghề rau thâm canh
Sau năm 1975Người lên vùng kinh tế mới từ nhiều tỉnhThôn mang số, vùng đồi mới khai hoang
Từ thập niên 1990Lao động mùa vụ, kỹ thuật viên, nhà đầu tư nông nghiệpNhà kính, kho lạnh, phòng trọ cho lao động

Mỗi lớp người đến không thay thế lớp trước mà chồng lên, tạo nên một vùng đất nhiều giọng nói, nhiều tập quán.

Sau năm 1975: vùng kinh tế mới

Sau năm 1975, nhiều gia đình từ các tỉnh đồng bằng và miền Trung được đưa lên các vùng kinh tế mới ở Lâm Đồng, trong đó có Đơn Dương. Họ khai hoang những vùng đồi còn thưa người, lập thôn mới, ban đầu trồng lúa, khoai, sắn để tự túc. Cuộc sống những năm đầu rất vất vả: thiếu nước, thiếu đường, thiếu kinh nghiệm canh tác trên đất dốc và khí hậu lạnh.

Dần dần, nhiều gia đình học nghề trồng rau từ các hộ đến trước, chuyển sang trồng rau hàng hoá. Những thôn mang số thứ tự ở một số xã hình thành trong giai đoạn này. Giọng nói của người các tỉnh khác nhau trộn vào nhau, đến thế hệ con cháu thì thành một giọng chung pha trộn của vùng.

Giai đoạn này cũng là lúc huyện Đơn Dương thuộc tỉnh Lâm Đồng hợp nhất, với huyện lỵ ở Thạnh Mỹ. Đường sá, trường học, trạm y tế được xây dựng dần cho những khu dân cư mới, làm cho bộ mặt thung lũng đổi thay theo.

Từ thập niên 1990: nhà kính và những người đến sau

Từ cuối thập niên 1990 và nhất là những năm 2000, nông nghiệp Đơn Dương chuyển mạnh sang nhà kính, nhà màng, tưới nhỏ giọt, giống mới. Những cánh đồng trắng mái nilon thành hình ảnh quen thuộc. Kéo theo đó là một lớp người mới: lao động làm thuê theo mùa vụ, kỹ thuật viên nông nghiệp, người thu mua, chủ kho lạnh, và các nhà đầu tư từ nơi khác đến thuê đất làm nông nghiệp công nghệ cao.

Lao động mùa vụ đến từ nhiều nơi, kể cả đồng bào các dân tộc từ các tỉnh Tây Nguyên và miền núi phía Bắc. Họ thuê trọ quanh các trung tâm, làm việc theo ngày hay theo mùa, một số ở lại lâu dài. Nhu cầu nhà trọ, quán ăn, dịch vụ cho lớp người này làm các khu trung tâm như Thạnh Mỹ, D'Ran, Lạc Lâm đông đúc hơn trước.

Lớp người đến sau không có những câu chuyện khai hoang gian khổ như thế hệ trước, nhưng họ đem theo kỹ thuật mới, vốn mới và kết nối với thị trường xa hơn. Họ là lớp trầm tích mới nhất trong lịch sử cư dân Đơn Dương.

Những gì các lớp cư dân để lại

Giọng nói pha trộn. Trong một thôn có thể nghe giọng Quảng, giọng Bắc, giọng Nam và tiếng Chu Ru, K'Ho. Thế hệ trẻ nói một giọng chung pha trộn.

Tập quán đa dạng. Đám cưới, đám giỗ, Tết ở mỗi gia đình mang dấu ấn quê gốc, khiến lịch sinh hoạt của thung lũng phong phú.

Nghề rau nhiều tầng kinh nghiệm. Kỹ thuật học từ người Pháp, kinh nghiệm thâm canh của người đồng bằng, rồi kỹ thuật nhà kính hiện đại chồng lên nhau.

Tên làng nhiều lớp. Tên bản địa, tên Hán Việt, tên số thứ tự xen nhau, mỗi lớp tên kể về một đợt người đến.

Chợ quê nhiều sắc thái. Sạp rau rừng của đồng bào cạnh sạp bánh quê miền Trung, quán phở kiểu Bắc cạnh quán bún kiểu Huế — chợ D'Ran, chợ Thạnh Mỹ là nơi thấy rõ nhất sự pha trộn của các lớp cư dân.

Sự quen sống cạnh người khác mình. Một vùng đất nhiều lớp cư dân tạo ra nếp quen hoà nhập, dù vẫn có những va chạm về đất đai, nguồn nước cần được giải quyết.

Người mới đến hôm nay nên hiểu gì từ lịch sử này

Ai chuyển về Đơn Dương làm việc, mở trang trại hay cơ sở kinh doanh hôm nay đang bước vào một vùng đất mà hầu hết mọi người đều có ông bà, cha mẹ từng là người mới đến. Điều đó khiến người địa phương thường cởi mở với người lạ, nhưng cũng nhạy cảm với những chuyện đụng đến đất đai, nguồn nước, những thứ mà thế hệ trước phải vất vả mới có.

Hiểu lịch sử cư dân giúp ứng xử đúng: tôn trọng các cộng đồng bản địa và quyền của họ với đất, rừng; hỏi chuyện quá khứ với sự tò mò chân thành; học hỏi kinh nghiệm làm rau từ những gia đình nhiều đời làm nghề. Những người đến sau thành công ở đây thường là những người chịu nghe và chịu học trước khi làm.

Cũng nên nhớ rằng lịch sử ở đây còn rất gần. Nhiều người khai hoang những năm đầu sau 1975 vẫn đang sống, nhiều người còn nhớ những khu dinh điền thuở mới lập. Một buổi trà với hàng xóm lớn tuổi đôi khi cho người mới đến hiểu về vùng đất nhiều hơn mọi tài liệu, và mở ra những mối quan hệ quý trong làm ăn, sinh sống.

Câu hỏi thường gặp

Người Kinh lên Đơn Dương từ khi nào?

Những người Kinh đầu tiên đến vùng này từ thời Pháp mở đường bộ và đường sắt lên Đà Lạt. Đợt đông nhất trước năm 1975 là các khu dinh điền từ cuối thập niên 1950, tiếp theo là các đợt lên vùng kinh tế mới sau năm 1975.

Dinh điền là gì?

Dinh điền là chương trình của chính quyền thời ấy, từ cuối thập niên 1950, đưa người Kinh lên lập các khu dân cư nông nghiệp mới ở vùng cao nguyên. Nhiều khu dân cư mang tên Hán Việt ở Đơn Dương gắn với giai đoạn này hoặc các giai đoạn gần đó.

Nghề trồng rau ở Đơn Dương bắt đầu từ bao giờ?

Những thửa vườn rau hàng hoá đầu tiên xuất hiện từ thời Pháp, quy mô nhỏ. Nghề rau phát triển mạnh từ khi có các khu dinh điền cuối thập niên 1950, lớn dần qua các thập niên sau và chuyển sang nhà kính từ cuối thập niên 1990.

Người Đơn Dương có quê gốc ở đâu?

Rất đa dạng. Bên cạnh đồng bào Chu Ru, K'Ho sống từ trước, người Kinh ở đây có quê gốc từ nhiều tỉnh miền Trung, miền Bắc và đồng bằng phía nam. Quê gốc cụ thể của từng thôn nên hỏi người cao tuổi tại chỗ.

Lao động mùa vụ ở Đơn Dương đến từ đâu?

Lao động mùa vụ đến từ nhiều nơi, gồm người các xã lân cận, các tỉnh Tây Nguyên và cả miền núi phía Bắc. Họ thường thuê trọ quanh các khu trung tâm và làm việc theo ngày, theo mùa ở các vườn rau, nhà kính.

Có tài liệu nào về lịch sử dân cư Đơn Dương không?

Địa chí tỉnh Lâm Đồng, các nghiên cứu về chương trình dinh điền và vùng kinh tế mới, cùng gia phả, hồi ký của các gia đình là những nguồn đáng tham khảo. Trò chuyện với người cao tuổi trong thôn cũng giúp hiểu rõ hơn từng nơi.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.