DonDuong.comĐơn Dương
Đất đai và khí hậu

Mùa khô ở Đơn Dương: gió hanh, thiếu nước tưới và cách các xóm giữ nước

Mùa khô Đơn Dương từ khoảng tháng 12 tới tháng 4: nắng, gió mùa đông bắc, suối cạn, nước ngầm hạ. Vì sao thiếu nước và các nguồn nước người dân dựa vào.

Dry season afternoon in a highland farming valley, a small earthen farm pond with low water, black irrigation pipes running across dusty fields, wind-blown dry grass on the hill

Mùa khô ở Đơn Dương kéo dài khoảng từ tháng 12 tới tháng 4. Mưa gần như dứt, trời quang, nắng nhiều, gió mùa đông bắc thổi mạnh, độ ẩm buổi trưa thấp. Những tháng cuối mùa, nhất là tháng 3, suối nhỏ cạn, mực nước sông Đa Nhim và hồ xuống thấp, nước ngầm hạ, và chuyện tưới trở thành mối lo lớn nhất của vùng rau.

Đơn Dương không thiếu nước theo nghĩa tổng thể: có sông chảy quanh năm, có hồ lớn. Nhưng nước không phân bố đều. Ruộng sát sông thì dễ, ruộng xa sông, trên đồi, trong các thung lũng nhánh thì khó. Cùng một vùng mà mùa khô có nơi tưới thoải mái, có nơi phải chia lượt, chở nước.

Bài này giải thích vì sao mùa khô ở Đơn Dương khắc nghiệt hơn người ta tưởng về một vùng cao nguyên, các nguồn nước người dân dựa vào, và những cách giữ nước ở cấp hộ và cấp xóm.

Vì sao mùa khô ở đây hanh và gió

Khi gió mùa tây nam rút đi, khoảng cuối tháng 11, không khí khô và lạnh hơn từ phía bắc, đông bắc tràn xuống. Luồng gió mùa đông bắc này thổi qua vùng biển và duyên hải Nam Trung Bộ, rồi leo lên mép cao nguyên phía đông. Vùng Ninh Thuận cũ dưới chân đèo vốn khô hạn bậc nhất cả nước; không khí thổi qua đó lên Đơn Dương mang theo tính chất khô ấy.

Vị trí sát mép đông khiến Đơn Dương hứng gió trực tiếp hơn Đà Lạt. Những thung lũng mở rộng về phía đông là đường gió lùa. Gió mạnh làm tăng bốc hơi từ mặt đất, mặt lá và mặt nước. Cùng một lượng nước tưới, ngày gió mạnh đất khô nhanh hơn ngày lặng gió rất nhiều.

Trời quang suốt mùa khô nghĩa là nắng chiếu nhiều giờ, mặt đất nhận nhiều nhiệt ban ngày. Ban đêm, cũng vì quang mây mà nhiệt toả mạnh, trời lạnh sâu. Sự kết hợp nắng, gió và độ ẩm thấp tạo nên kiểu thời tiết "hanh" đặc trưng: da khô, môi nứt, lá rau héo nhanh vào buổi trưa nếu thiếu nước.

Diễn biến mùa khô qua các tháng

Mô tả xu hướng chung, mỗi năm khác nhau tuỳ lượng mưa mùa trước và thời điểm mưa trở lại.

ThángThời tiếtNguồn nướcÁp lực tưới
12khô trở lại, lạnh, gió bắt đầu mạnhsuối còn nước, hồ caothấp
1khô, gió mạnh, đêm lạnh sâusuối giảm, sông còn khátăng dần
2khô hanh, ngày ấm dầnsuối nhỏ bắt đầu cạn, nước ngầm hạcao
3khô nhất, nắng gắtnhiều suối cạn, sông thấp, hồ xuống sâucao nhất
4chuyển mùa, giông đầu mùachờ mưa bổ sungcòn cao nếu mưa đến muộn

Năm nào mưa mùa trước ít, hồ và nước ngầm không được bổ sung đủ, thì áp lực tưới tới sớm hơn và gay gắt hơn. Năm nào mưa đầu mùa đến muộn, tháng 4 cũng căng thẳng như tháng 3.

Đọc bảng theo chiều dọc sẽ thấy một điều: áp lực tưới tăng dần trong khi nguồn nước giảm dần, và hai đường ấy gặp nhau ở khoảng tháng 3. Đó là thời điểm mọi hộ đều cần nước nhất, trong khi sông, suối, giếng đều ở mức thấp nhất. Mọi sự chuẩn bị về trữ nước, bố trí mùa vụ đều nhằm vượt qua đúng khoảng thời gian này.

Các nguồn nước người dân dựa vào

Sông Đa Nhim. Nguồn nước ổn định nhất vì được nuôi từ vùng núi đầu nguồn có mưa nhiều. Ruộng ven sông lấy nước bằng máy bơm, đường ống. Mùa khô cuối mùa, khi nhiều trạm bơm cùng hút, có đoạn sông nước thấp tới mức đầu hút phải hạ sâu hơn.

Suối nhánh. Nguồn nước của các xóm xa sông chính. Suối có rừng đầu nguồn tốt chảy lâu hơn; suối mà rừng phía trên đã bị phá thì cạn sớm. Sự khác biệt giữa các xóm trong cùng một xã đôi khi chỉ nằm ở chuyện này.

Hồ và kênh mương thuỷ lợi. Một số vùng được cấp nước từ hồ chứa, đập dâng nhỏ qua hệ thống kênh mương. Việc phân phối nước theo lịch của đơn vị quản lý hoặc tổ dùng nước.

Ao trữ của nông hộ. Nhiều hộ đào ao, lót bạt để trữ nước mưa và nước suối từ mùa mưa, dùng dần trong mùa khô. Ao trữ là cách phổ biến ở những nơi xa nguồn nước tự nhiên.

Giếng đào, giếng khoan. Khai thác nước ngầm. Ở đáy thung lũng gần sông, nước ngầm thường nông; trên đồi phải khoan sâu hơn. Mùa khô kéo dài, mực nước giếng hạ, có giếng cạn hẳn.

Nước ngầm: nguồn dự trữ không vô hạn

Nước ngầm ở vùng cao nguyên được bổ sung chủ yếu từ nước mưa thấm qua đất trong mùa mưa. Rừng, thảm cỏ, đất tơi xốp giúp nước thấm nhiều; mặt đất bê tông hoá, đất trọc nén chặt khiến nước chảy tràn đi mất. Như vậy lượng nước ngầm có thể dùng trong mùa khô phụ thuộc vào cách mặt đất được giữ gìn trong mùa mưa.

Khi nhiều giếng khoan cùng khai thác trong một khu vực nhỏ vào mùa khô, mực nước ngầm hạ nhanh hơn. Giếng nông của các hộ xung quanh có thể cạn trước. Đây là vấn đề chung của nhiều vùng nông nghiệp cao nguyên, không chỉ ở Đơn Dương. Việc khoan giếng khai thác nước ngầm cũng có quy định về đăng ký, cấp phép tuỳ quy mô; người định khoan giếng lớn nên hỏi chính quyền xã trước.

Chất lượng nước ngầm là mối quan tâm khác. Ở vùng thâm canh rau, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có thể thấm xuống tầng nước nông. Nước giếng dùng để ăn uống nên được xét nghiệm định kỳ, và nên lấy từ giếng ở xa khu vực pha thuốc, súc rửa bình phun, chuồng trại.

Gió và bụi: những phiền toái hằng ngày của mùa khô

Ngoài chuyện nước, gió mùa khô ảnh hưởng trực tiếp tới sinh hoạt. Những ngày gió mạnh, bụi đất đỏ từ ruộng vừa làm đất và đường đất bay lên, bám vào nhà cửa, quần áo phơi, lá rau. Đi xe máy ngược gió trên đường trống tốn sức và bụi vào mắt. Người có bệnh hô hấp, trẻ nhỏ dễ ho, khô họng.

Gió cũng là mối đe doạ với công trình nông nghiệp. Màng nhà kính căng không đều bị gió giật rách, mái tôn nhà kho bị tốc, lưới che bị thổi tung. Những vùng sát đèo phía đông, gió có thể thổi liên tục nhiều ngày, đòi hỏi cột, khung, dây néo phải chắc hơn nơi khác.

Một số hộ trồng hàng cây chắn gió quanh ruộng hoặc dọc hướng gió chính. Hàng cây giúp giảm tốc độ gió trên ruộng, giảm bốc hơi và giảm bụi. Đây là giải pháp lâu dài, cần vài năm mới phát huy, nhưng chi phí thấp và có lợi cả về giữ đất.

Cách giữ nước và tiết kiệm nước trong mùa khô

Các nguyên lý dưới đây được khuyến nông và người làm nông lâu năm áp dụng; cách làm cụ thể tuỳ quy mô ruộng và nguồn nước của từng hộ.

  • Trữ nước từ mùa mưa: ao lót bạt, bể chứa, hứng nước mái nhà kính; tính toán dung tích đủ cho những tuần khô nhất.
  • Tưới đúng lúc: tưới sáng sớm hoặc chiều muộn, tránh trưa nắng gió mạnh để giảm bốc hơi.
  • Tưới đúng chỗ: tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa tầm thấp đưa nước tới gốc thay vì phun tràn cả khoảng không.
  • Che phủ mặt đất: màng phủ luống, rơm rạ, tàn dư cây trồng giữ ẩm, giảm bốc hơi và giảm bụi.
  • Kiểm tra rò rỉ: đường ống, khớp nối, van bị rò gây thất thoát lớn mà ít ai để ý.
  • Chọn mùa vụ hợp lý: ruộng xa nguồn nước có thể bố trí cây ít cần nước vào cuối mùa khô, tránh xuống giống loại cần nhiều nước đúng lúc khan hiếm.
  • Chia sẻ nước công bằng: ở những nơi nhiều hộ dùng chung một con suối, thoả thuận lịch bơm giúp tránh tranh chấp và tránh cảnh hộ cuối nguồn không còn nước.

Giữ nước không chỉ là chuyện tiết kiệm chi phí bơm. Ở vùng có mùa khô rõ rệt như Đơn Dương, nó quyết định một hộ có làm được vụ cuối mùa khô hay không.

Cháy đồi và đốt rác: mối nguy song hành với mùa khô

Mùa khô cũng là mùa nguy cơ cháy cao nhất. Cỏ tranh trên đồi, lá thông khô dưới tán rừng, tàn dư cây trồng trên ruộng đều rất dễ bắt lửa. Gió mạnh làm lửa lan nhanh và khó kiểm soát. Nhiều đám cháy bắt đầu từ việc đốt rác, đốt cỏ dọn ruộng ở mép đồi rồi lan vào rừng.

Nguyên tắc đơn giản: hạn chế đốt trong mùa khô, nhất là những ngày gió; nếu bắt buộc phải đốt, làm ở nơi trống, có người trông, có sẵn nước, dập tắt hẳn trước khi rời đi; không đốt sát rừng thông. Không vứt tàn thuốc ven đường đi qua đồi cỏ.

Khi phát hiện cháy rừng, cần báo ngay cho thôn, xã, lực lượng bảo vệ rừng. Không nên tự lao vào dập đám cháy lớn khi không có kinh nghiệm và dụng cụ, vì gió đổi hướng có thể khiến người bị lửa vây. Chuyện rừng thông và phòng cháy được bàn kỹ hơn ở bài về rừng và đồi núi.

Mùa khô không chỉ có khó khăn

Dù là mùa của chuyện tưới, mùa khô cũng mang lại nhiều điều thuận lợi cho vùng Đơn Dương. Trời ít mưa nên đường đất vào ruộng khô ráo, xe chở nông sản và vật tư đi lại dễ dàng. Rau trồng ngoài trời ít bị nấm bệnh hơn mùa mưa dầm, chất lượng thu hoạch thường đều hơn. Nhiều hộ coi mùa khô là mùa dễ chăm sóc nếu có đủ nước.

Với đời sống, mùa khô là mùa của những công việc cần trời ráo: sửa nhà, xây mới, làm đường, tổ chức đám cưới, sự kiện ngoài trời. Những tháng đầu năm có Tết, người đi làm ăn xa về quê đông, chợ quê nhộn nhịp hơn. Trời trong, không khí lạnh khô cũng là lúc cảnh quan đồng rau, hồ nước và đồi thông đẹp nhất trong năm.

Hiểu mùa khô như một giai đoạn có quy luật, đến và đi theo nhịp hằng năm, giúp chuẩn bị chủ động hơn thay vì chỉ chống chọi. Với người mới đến, đó cũng là thời điểm dễ làm quen với vùng đất nhất, chỉ cần mang đủ áo ấm cho đêm, kem dưỡng cho ngày và uống đủ nước.

Người làm nông lâu năm ở Đơn Dương thường tính lịch cả năm xoay quanh mùa khô: mùa mưa lo trữ nước, sửa ao, giữ rừng đầu nguồn; đầu mùa khô tính toán diện tích có thể tưới đủ; cuối mùa khô chọn cây hợp với lượng nước còn lại. Cách nghĩ ấy biến mùa khô từ nỗi lo thành một phần của kế hoạch.

Câu hỏi thường gặp

Mùa khô ở Đơn Dương có hạn hán nghiêm trọng không?

Mức độ tuỳ từng năm và từng nơi. Ruộng ven sông Đa Nhim thường vẫn có nước, còn ruộng trên đồi, xa nguồn và các suối nhỏ có thể thiếu nước nghiêm trọng vào cuối mùa khô, nhất là những năm mùa mưa trước ít mưa hoặc mưa năm sau đến muộn.

Vì sao Đơn Dương gió nhiều hơn Đà Lạt trong mùa khô?

Vì Đơn Dương nằm sát mép cao nguyên phía đông, hứng trực tiếp gió mùa đông bắc thổi từ vùng duyên hải lên, trong khi Đà Lạt được nhiều khối núi che chắn hơn. Các thung lũng mở về phía đông cũng làm gió lùa mạnh.

Có cần xin phép khi khoan giếng để tưới không?

Việc khai thác nước ngầm có quy định về đăng ký hoặc cấp phép tuỳ quy mô và mục đích. Giếng nhỏ cho sinh hoạt hộ gia đình thường đơn giản hơn, giếng lớn cho sản xuất có thể cần thủ tục. Nên hỏi chính quyền xã về quy định hiện hành trước khi khoan.

Ao trữ nước có nhược điểm gì không?

Ao tốn diện tích, mất nước do bốc hơi và thấm nếu không lót bạt, có thể rêu tảo khi nước tù. Ao sâu cũng là mối nguy với trẻ nhỏ, cần có rào chắn. Dù vậy, với nhiều hộ xa nguồn nước, ao trữ vẫn là cách khả thi nhất để có nước mùa khô.

Nước giếng ở vùng trồng rau có an toàn để uống không?

Không nên mặc định là an toàn. Nước giếng nông ở vùng thâm canh có thể nhiễm vi sinh, nitrat hoặc dư lượng hoá chất. Nên xét nghiệm nước tại cơ sở có chức năng, dùng nước máy nếu có, và luôn đun sôi, lọc trước khi uống.

Làm gì để giảm bụi trong nhà vào mùa khô?

Đóng cửa phía đón gió vào giờ gió mạnh, lau nhà bằng khăn ẩm thay vì quét khô, trồng cây hoặc hàng rào xanh quanh nhà, tưới ẩm sân đất. Người có bệnh hô hấp nên đeo khẩu trang khi ra ngoài và hỏi ý kiến bác sĩ nếu ho kéo dài.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.