DonDuong.comĐơn Dương
Kinh tế, thuỷ điện và chăn nuôi

Nuôi bò sữa ở Đơn Dương: vì sao vùng rau thành vùng bò, nông hộ làm thế nào

Khí hậu mát, cỏ và phụ phẩm rau dồi dào giúp Đơn Dương thành vùng bò sữa của Lâm Đồng. Một ngày của hộ nuôi bò, cách thu gom sữa, chi phí cần tính và rủi ro.

Early morning inside a small family dairy barn in the Vietnamese highlands, black and white cows feeding on fresh grass, a farmer seen from behind carrying a steel milk can

Đơn Dương là một trong những vùng nuôi bò sữa chính của Lâm Đồng nhờ ba điều kiện: khí hậu mát quanh năm hợp với giống bò gốc ôn đới, nguồn thức ăn xanh dồi dào từ cỏ trồng và phụ phẩm rau, cùng mạng lưới thu gom sữa tươi đã hình thành từ lâu. Phần lớn đàn bò nằm trong tay nông hộ, mỗi nhà vài con tới vài chục con, rải khắp các thôn của bốn xã Đơn Dương, D'Ran, Ka Đô, Quảng Lập.

Với nhiều gia đình, bò sữa là khoản thu đều đặn mỗi ngày, bù cho cái bấp bênh của rau. Đổi lại, đây là nghề không có ngày nghỉ: sáng sớm và chiều tối đều phải vắt sữa, cho ăn, dọn chuồng, giao sữa đúng giờ.

Bài này giải thích vì sao nghề bò sữa bám rễ ở vùng rau, một ngày làm việc ra sao, sữa đi từ chuồng tới nhà máy thế nào, và những khoản cần tính kỹ trước khi bắt đầu. Trang không nêu giá sữa, giá bò thật; số minh hoạ nếu có đều là ví dụ giả định.

Vì sao vùng rau lại thành vùng bò

Bò sữa cao sản ở Việt Nam phần lớn mang máu giống Holstein Friesian, thường gọi tắt là bò HF, gốc vùng ôn đới. Giống bò này chịu nóng kém: trời nóng ẩm là ăn ít, sữa giảm, dễ bệnh. Vùng đồng bằng phải tốn nhiều công làm mát chuồng; còn ở Đơn Dương, nhiệt độ trung bình dễ chịu hơn hẳn, bò ăn khoẻ và cho sữa ổn định hơn với chi phí làm mát thấp.

Thứ hai là thức ăn. Bò sữa cần lượng thức ăn thô xanh rất lớn mỗi ngày. Đơn Dương có đất trồng cỏ và đặc biệt có nguồn phụ phẩm rau gần như vô tận: lá bắp cải già, cà rốt loại, thân bắp, rau không đạt chuẩn bán. Thứ người trồng rau phải bỏ đi lại thành thức ăn rẻ cho bò, nếu biết dùng đúng cách.

Thứ ba là mạng lưới. Khi đã có nhiều hộ nuôi, các điểm thu gom sữa, xe bồn lạnh, đại lý thức ăn, dịch vụ thú y, phối giống nhân tạo mọc lên theo. Người mới vào nghề không phải tự lo đầu ra hay tự tìm thú y từ xa. Chính hiệu ứng tụ hội này giữ nghề bò ở lại vùng, dù chỗ khác có thể rẻ đất hơn.

Một ngày của hộ nuôi bò sữa (mô tả điển hình)

Giờ giấc mỗi nhà khác nhau, phụ thuộc lịch nhận sữa của điểm thu gom. Bảng dưới là nhịp phổ biến ở các hộ quy mô gia đình.

Thời điểmCông việc chínhGhi chú
Tờ mờ sángDọn chuồng, vệ sinh bầu vú, vắt sữa cữ sángMáy vắt hoặc vắt tay; dụng cụ phải sạch
Sáng sớmLọc sữa, giữ mát, chở tới điểm thu gomGiao đúng giờ để sữa vào bồn lạnh sớm
Buổi sángCho ăn thức ăn thô xanh, thức ăn tinh, cho uống nướcCắt cỏ, chở phụ phẩm rau về
Buổi trưa, chiềuCắt cỏ, ủ thức ăn, dọn phân, theo dõi bò bệnh, bò sắp đẻThời gian làm việc ngoài ruộng nếu có
Chiều tốiVắt sữa cữ chiều, giao sữa, cho ăn cữ tốiVòng lặp lại mỗi ngày, kể cả ngày lễ

Nhịp này cho thấy vì sao nuôi bò sữa khó đi xa nhà. Gia đình có ít người thường phải thuê thêm lao động, hoặc giữ đàn nhỏ vừa sức.

Sữa đi từ chuồng tới nhà máy

Chuỗi sữa tươi ở Đơn Dương đi theo trình tự khá chuẩn. Hiểu từng khâu giúp người nuôi biết vì sao sữa bị trả về hay bị trừ chất lượng.

  1. Vắt sữa sạch. Vệ sinh bầu vú, bỏ những tia sữa đầu, dùng xô, máy vắt sạch. Sữa nhiễm bẩn từ khâu này rất khó cứu.
  2. Lọc và làm mát nhanh. Sữa vừa vắt ở gần thân nhiệt bò, vi khuẩn phát triển nhanh nếu để ở nhiệt độ thường. Càng đưa tới bồn lạnh sớm càng tốt.
  3. Giao ở điểm thu gom. Điểm thu gom kiểm tra cảm quan, đo một số chỉ tiêu, lấy mẫu, cân hoặc đo thể tích, rồi đổ vào bồn làm lạnh.
  4. Kiểm tra chất lượng. Các chỉ tiêu như chất béo, chất khô, tế bào soma, tồn dư kháng sinh thường được đo theo định kỳ. Sữa có tồn dư kháng sinh bị loại.
  5. Xe bồn lạnh chở về nhà máy. Từ các điểm gom, sữa được xe bồn chở về nhà máy chế biến trong hoặc ngoài tỉnh.
  6. Thanh toán theo chất lượng. Tiền sữa thường tính theo khối lượng cộng thưởng phạt theo chất lượng, trả theo kỳ ghi trong hợp đồng.

Điểm mấu chốt người nuôi hay bỏ qua: bò đang điều trị kháng sinh thì sữa phải bỏ trong thời gian ngưng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ thú y, không được trộn vào sữa giao. Một lần dính tồn dư có thể làm hỏng cả bồn sữa chung và mất uy tín với điểm thu gom.

Thức ăn: cỏ, phụ phẩm rau và thức ăn tinh

Cỏ trồng là nền. Các giống cỏ thâm canh như cỏ voi và những giống cỏ năng suất cao được trồng ở ruộng riêng, cắt về băm cho bò ăn. Hộ không có đất trồng cỏ phải mua cỏ, chi phí tăng đáng kể.

Phụ phẩm rau dùng có chừng mực. Lá bắp cải, cà rốt loại rất được bò ưa, nhưng ăn quá nhiều một loại có thể gây rối loạn tiêu hoá, chướng hơi. Rau còn tồn dư thuốc bảo vệ thực vật là mối lo thật; nên biết rõ nguồn và thời gian cách ly của ruộng rau trước khi lấy về cho bò.

Ủ chua để dự trữ. Mùa thừa phụ phẩm, nhiều hộ ủ chua thân bắp, cỏ, rau trong hố hoặc bao kín để dùng dần mùa thiếu. Ủ đúng cách thì thức ăn thơm, bò ăn tốt; ủ hở dễ thối mốc, gây bệnh.

Thức ăn tinh theo năng suất. Bò cho nhiều sữa cần thêm thức ăn tinh như cám hỗn hợp. Đây là khoản chi lớn, nên cho ăn theo năng suất từng con, không rải đều cả đàn.

Nước uống sạch và đủ. Bò sữa uống rất nhiều nước; thiếu nước là sữa giảm ngay. Máng nước sạch, luôn đầy là việc đơn giản mà nhiều hộ làm chưa tốt.

Những khoản cần tính trước khi nuôi bò sữa

Không có con số chung cho mọi hộ. Bảng dưới liệt kê các nhóm chi phí và thu nhập để tự lập bảng tính của mình; mọi con số nên hỏi người nuôi lâu năm trong thôn và cán bộ khuyến nông ở thời điểm hiện tại.

NhómGồm những gìCần để ý
Đầu tư ban đầuBò giống, chuồng, máng ăn uống, máy vắt, hố ủ, hệ thống xử lý phânChuồng phải đúng quy định về khoảng cách với nhà dân, nguồn nước
Thức ănCỏ, phụ phẩm, thức ăn tinh, khoángThường là khoản chi lớn nhất mỗi tháng
Thú y, phối giốngTiêm phòng, điều trị, phối giống nhân tạoBò viêm vú, chậm sinh là hai nguồn thua lỗ phổ biến
Công lao độngCông gia đình và thuê ngoàiCông gia đình cũng nên tính, kẻo tưởng lãi mà thật ra lấy công bù
ThuTiền sữa, bê con, phân bò bán hoặc dùng bón ruộngThu theo chất lượng sữa, không chỉ theo khối lượng

Ví dụ giả định để thấy logic: hai hộ cùng số bò, hộ A có đất trồng cỏ và tận dụng phụ phẩm rau của chính mình, hộ B phải mua toàn bộ thức ăn xanh. Cùng giá sữa, biên lợi nhuận của hộ B có thể mỏng hơn hẳn, thậm chí âm khi thức ăn tinh tăng giá. Vì thế quỹ đất trồng cỏ thường quyết định quy mô đàn hợp lý.

Rủi ro của nghề và cách người nuôi xoay xở

Rủi ro thứ nhất là dịch bệnh. Bệnh lở mồm long móng, viêm da nổi cục, tụ huyết trùng và các bệnh khác có thể gây thiệt hại lớn. Tiêm phòng đầy đủ theo hướng dẫn của thú y địa phương, cách ly bò mới mua, không mua bò không rõ nguồn gốc là những nguyên tắc cơ bản. Khi bò có dấu hiệu bất thường, gọi bác sĩ thú y thay vì tự mua thuốc tiêm.

Rủi ro thứ hai là giá. Giá sữa thu mua do bên mua đưa ra theo hợp đồng, trong khi giá thức ăn tinh lại phụ thuộc thị trường nguyên liệu. Khi hai đường này đi ngược nhau, người nuôi bị kẹp giữa. Hộ nhỏ ít khả năng thương lượng; một số nơi người nuôi liên kết qua tổ hợp tác, hợp tác xã để có tiếng nói tốt hơn.

Rủi ro thứ ba là môi trường và quan hệ hàng xóm. Phân và nước thải chuồng bò nếu không xử lý gây mùi, ruồi, ô nhiễm khe suối. Chuồng sát khu dân cư dễ bị phản ánh. Làm hầm biogas, ủ phân, gom nước thải đúng cách vừa giữ hoà khí vừa biến chất thải thành phân bón cho ruộng rau, điều mà bài về vòng rau – bò trong mục này nói kỹ hơn.

Giống bò, phối giống và chuyện nuôi bê

Đàn bò sữa ở Lâm Đồng nói chung chủ yếu là bò HF thuần và bò lai HF với các giống khác, một số nơi có bò Jersey cho sữa ít hơn nhưng giàu chất béo, chịu nóng khá hơn. Bò thuần cho năng suất cao nhưng đòi hỏi chăm sóc kỹ, thức ăn tốt; bò lai dễ nuôi hơn, năng suất thấp hơn. Chọn giống hợp với khả năng chăm sóc và nguồn thức ăn của gia đình quan trọng hơn chạy theo con số năng suất.

Phối giống chủ yếu bằng thụ tinh nhân tạo, do dẫn tinh viên hoặc thú y được đào tạo thực hiện. Phát hiện đúng lúc bò động dục là kỹ năng then chốt: bỏ lỡ một chu kỳ là bò chậm đẻ thêm vài tuần, mà bò không đẻ thì không có sữa. Nhiều hộ ghi chép ngày phối, ngày đẻ của từng con vào sổ hoặc điện thoại để theo dõi.

Bê sinh ra là một nguồn thu và cũng là nơi quyết định đàn bò tương lai. Bê đực thường được bán đi nuôi thịt; bê cái tốt được giữ lại làm bò hậu bị. Cho bê bú sữa đầu đủ và sớm sau khi sinh, giữ chuồng bê khô ráo, sạch sẽ là những việc giảm hẳn tỷ lệ bê bệnh, chết. Nuôi một con bê cái tới khi cho sữa mất khá nhiều thời gian và tiền, nên giữ được bê khoẻ là giữ được vốn.

Người mới vào nghề thường muốn mua ngay bò đang cho sữa để có tiền nhanh. Cách này tốn vốn ban đầu lớn và có rủi ro mua phải bò già, bò đã viêm vú mạn tính, bò khó phối. Nên nhờ người có kinh nghiệm hoặc thú y đi xem cùng, hỏi rõ lịch sử đẻ, sản lượng, bệnh tật của con bò trước khi xuống tiền.

Câu hỏi thường gặp

Muốn nuôi bò sữa ở Đơn Dương thì bắt đầu từ đâu?

Nên bắt đầu bằng việc đi xem và hỏi vài hộ nuôi lâu năm trong thôn, gặp cán bộ khuyến nông hoặc thú y xã, tìm hiểu điểm thu gom sữa gần nhất và điều kiện ký hợp đồng. Bắt đầu với số bò nhỏ vừa sức lao động và quỹ đất trồng cỏ, học nghề vài năm rồi mới mở rộng.

Có cần làm thủ tục gì khi xây chuồng bò sữa không?

Có. Chăn nuôi phải tuân thủ quy định về khoảng cách với khu dân cư và nguồn nước, xử lý chất thải và kê khai chăn nuôi theo quy mô. Quy định cụ thể thay đổi theo từng thời kỳ và từng quy mô, nên hỏi Ủy ban nhân dân xã trước khi xây, tránh bị buộc di dời sau này.

Cho bò ăn rau loại có an toàn không?

Rau loại là nguồn thức ăn tốt nếu dùng có chừng mực và rõ nguồn. Cần tránh rau vừa phun thuốc bảo vệ thực vật chưa qua thời gian cách ly, rau thối mốc, và không cho ăn quá nhiều một loại trong một bữa để tránh chướng hơi. Nên phối với cỏ và thức ăn khác cho cân đối.

Sữa bị điểm thu gom trả về thường do nguyên nhân gì?

Hay gặp nhất là tồn dư kháng sinh do vắt sữa bò đang điều trị, sữa nhiễm khuẩn do dụng cụ bẩn hoặc để lâu không làm mát, sữa có mùi lạ do thức ăn, và sữa bị pha nước. Giữ vệ sinh khâu vắt, giao sữa sớm và tuân thủ thời gian ngưng thuốc là cách phòng tốt nhất.

Một người làm thuê có thể vào nghề bò sữa không?

Có thể bắt đầu bằng việc làm công cho các trại, hộ nuôi lớn để học nghề: cắt cỏ, dọn chuồng, vắt sữa, chăm bê. Công việc đều đặn, có chỗ còn bố trí chỗ ở. Sau vài năm có tay nghề và chút vốn, nhiều người tự mua vài con bò nuôi riêng.

Bò sữa có bị ảnh hưởng khi thời tiết Đơn Dương nắng nóng không?

Đơn Dương mát hơn đồng bằng nhưng những ngày nắng gắt mùa khô vẫn làm bò giảm ăn, giảm sữa. Chuồng thoáng, mái cách nhiệt, có quạt hoặc phun sương nhẹ, nước uống đủ và mát giúp bò vượt qua. Bò HF thuần chịu nóng kém hơn bò lai.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.