DonDuong.comĐơn Dương
Kinh tế, thuỷ điện và chăn nuôi

Thuỷ điện Đa Nhim: hồ, đập ở Đơn Dương và nhà máy dưới chân đèo vận hành ra sao

Hồ và đập Đa Nhim nằm ở Đơn Dương, nhà máy đặt dưới chân đèo phía Khánh Hoà. Bài giải thích đường đi của nước, lịch sử công trình và vì sao nơi này hợp làm thuỷ điện.

Wide view of a highland reservoir dam in Vietnam at early morning, calm water reflecting pine hills, concrete spillway gates and a narrow road along the crest, soft mist

Thuỷ điện Đa Nhim là công trình chia làm hai phần cách nhau cả một vách núi. Phần trên cao nguyên, gồm đập ngăn sông Đa Nhim và hồ chứa mà người địa phương quen gọi là hồ Đơn Dương, nằm ở vùng D'Ran – Lạc Xuân, nay thuộc xã D'Ran, tỉnh Lâm Đồng. Phần phát điện là nhà máy đặt ở chân đèo Ngoạn Mục, phía Ninh Sơn của Ninh Thuận cũ, nay thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Nối hai phần là đường hầm xuyên núi và đường ống áp lực bằng thép chạy dọc sườn dốc. Nước từ hồ trên cao rơi xuống qua chênh lệch độ cao rất lớn, quay tua-bin ở dưới, rồi chảy tiếp về đồng bằng phía đông. Chính vì thế không thể nói "nhà máy Đa Nhim ở Đơn Dương" mà phải nói hồ và đập ở Đơn Dương, nhà máy ở chân đèo.

Bài này giải thích cách công trình hoạt động, lịch sử ra đời, những gì người đi đường có thể nhìn thấy, và những điều nên biết khi sống hay đi chơi quanh khu vực hồ đập.

Vì sao Đa Nhim là chỗ đặt thuỷ điện lý tưởng

Thuỷ điện cần hai thứ: lưu lượng nước và chênh lệch độ cao, dân kỹ thuật gọi là cột nước. Sông ở đồng bằng có nhiều nước nhưng độ dốc thấp; suối trên núi dốc nhưng ít nước. Đa Nhim có cái may hiếm gặp: một con sông khá lớn chảy trên cao nguyên, cách mép vực xuống đồng bằng chỉ vài cây số đường chim bay.

Các kỹ sư không cần xây đập thật cao để tạo cột nước. Họ chỉ cần chặn sông thành hồ trên cao nguyên, rồi khoan một đường hầm xuyên qua dãy núi về phía mép đông, đưa nước ra sườn vực và để nó rơi thẳng xuống. Chênh cao giữa mặt hồ và nhà máy lên tới hàng trăm mét, thuộc loại lớn ở Việt Nam. Cột nước càng cao thì cùng một lượng nước sinh ra càng nhiều điện.

Một cái lợi khác: nước sau khi phát điện không đổ bỏ mà chảy về vùng đồng bằng ven biển, nơi nắng nóng và thiếu nước. Như vậy một dòng nước vừa cho điện, vừa cho tưới, theo hướng ngược với dòng chảy tự nhiên của sông Đa Nhim vốn chảy về phía tây nam vào hệ thống sông Đồng Nai.

Đường đi của một giọt nước qua công trình

Có thể hình dung quá trình theo trình tự dưới đây. Mô tả mang tính nguyên lý, không đi vào thông số thiết kế chi tiết.

  1. Tích nước ở hồ. Sông Đa Nhim cùng các suối nhánh từ vùng núi phía bắc đổ về, bị đập chặn lại thành hồ ở khu vực D'Ran – Lạc Xuân. Mùa mưa hồ dâng, mùa khô hồ rút.
  2. Vào cửa lấy nước. Nước được đưa vào cửa nhận nước có lưới chắn rác, rồi đi vào đường hầm dẫn nước.
  3. Xuyên núi. Đường hầm chạy xuyên qua dãy núi về phía mép cao nguyên phía đông, gần như nằm ngang, giữ nguyên độ cao của nước.
  4. Tháp điều áp. Gần cuối đường hầm có tháp điều áp để hấp thụ dao động áp suất khi nhà máy tăng giảm tải đột ngột, bảo vệ đường hầm và đường ống.
  5. Rơi theo đường ống áp lực. Từ mép vực, nước chảy vào đường ống thép đặt dọc sườn núi, đổ thẳng xuống. Người đi đèo Ngoạn Mục nhìn thấy những đường ống này như những vệt dài trên sườn dốc.
  6. Quay tua-bin. Ở nhà máy dưới chân đèo, nước áp lực cao làm quay tua-bin, kéo máy phát. Điện được nâng áp và hoà vào lưới truyền tải.
  7. Ra kênh hạ lưu. Nước sau tua-bin chảy ra sông suối phía dưới rồi đi vào hệ thống thuỷ lợi của vùng đồng bằng phía đông.

Toàn bộ chuỗi này cho thấy vì sao một biến động nhỏ ở hồ, như mực nước xuống thấp trong mùa khô, lại liên quan tới cả việc phát điện ở chân đèo lẫn nước tưới ở đồng bằng.

Lịch sử ra đời của công trình

Thuỷ điện Đa Nhim được xây dựng trong khoảng đầu những năm 1960, bằng nguồn vốn bồi thường chiến tranh của Nhật Bản cho chính quyền miền Nam lúc đó, với kỹ sư và nhà thầu Nhật Bản tham gia thiết kế, thi công. Công trình bắt đầu phát điện năm 1964. Công suất thiết kế ban đầu khoảng 160 MW, là con số rất lớn so với nhu cầu điện thời đó.

Cùng với nhà máy là đường dây truyền tải điện về vùng Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Trong những năm chiến tranh, hệ thống đường dây nhiều lần bị hư hại và phải sửa chữa. Sau năm 1975, nhà máy được khôi phục, tiếp tục vận hành và nằm trong hệ thống điện quốc gia. Những năm gần đây, công trình được đầu tư mở rộng và thay mới thiết bị để tăng hiệu quả, tận dụng cùng hồ chứa và cột nước sẵn có.

Với vùng Đơn Dương, giai đoạn xây dựng để lại dấu ấn rõ: đường sá được mở rộng, dân cư quanh khu vực đập đông lên, và một phần thung lũng ven sông bị ngập khi tích nước. Người lớn tuổi ở D'Ran, Lạc Xuân vẫn kể về những xóm cũ nằm dưới lòng hồ bây giờ.

Người đi đường nhìn thấy gì

Mặt hồ Đa Nhim. Đi từ Trạm Hành xuống D'Ran hay chạy đường quanh khu Lạc Xuân, mặt hồ hiện ra giữa đồi thông và ruộng rau. Mùa mưa nước đầy, mùa khô lộ ra những bãi đất ven bờ.

Khu vực đập. Đập và các hạng mục điều tiết là công trình được bảo vệ. Có thể nhìn từ xa ở những chỗ đường công cộng đi qua, nhưng không tự ý vào khu vực cấm, không bay flycam nếu không được phép.

Đường ống trên sườn đèo. Xuống đèo Ngoạn Mục về phía đông, ở một số khúc cua có thể thấy rõ đường ống áp lực chạy dọc sườn núi xuống thung lũng. Đây là hình ảnh nhiều người nhớ nhất về Đa Nhim.

Nhà máy dưới chân đèo. Nhà máy nằm ở vùng thấp phía Khánh Hoà mới, ngoài địa bàn Đơn Dương. Khi viết hay kể chuyện về Đa Nhim, nên nói đúng chỗ này để tránh nhầm.

Công trình này liên quan gì tới đời sống ở Đơn Dương

Hồ chứa làm thay đổi cảnh quan và vi khí hậu quanh D'Ran, Lạc Xuân. Mặt nước rộng giúp không khí ẩm hơn trong mùa khô, buổi sáng hay có sương trên mặt hồ. Hồ cũng là cảnh đẹp thu hút khách đi đường dừng chân, tạo cơ hội cho các quán ăn uống, điểm bán nông sản nhỏ.

Mặt khác, sống cạnh một hồ chứa thuỷ điện có những ràng buộc. Vùng ven hồ có hành lang bảo vệ, việc xây dựng, đào đắp, lấn chiếm lòng hồ đều bị kiểm soát. Đất bán ngập lộ ra mùa khô không phải đất muốn trồng là trồng. Việc lấy nước từ hồ để tưới quy mô lớn cũng phải theo quy định quản lý tài nguyên nước.

Khi mùa mưa lớn, hồ có thể phải xả nước qua tràn để bảo đảm an toàn đập. Lúc đó người sống ven sông phía hạ du trên cao nguyên cần theo dõi thông báo của chính quyền xã và đơn vị vận hành. Bài về nguồn nước hồ Đa Nhim trong mục này nói thêm chuyện mực nước theo mùa.

Đa Nhim trong bức tranh thuỷ điện quanh vùng

Đa Nhim không phải công trình duy nhất dùng nước của vùng cao nguyên này. Dòng sông Đa Nhim sau khi rời Đơn Dương còn chảy qua vùng Đức Trọng cũ, nơi có hồ Đại Ninh, một công trình thuỷ điện khác cũng dẫn nước xuyên núi xuống phía duyên hải. Nhìn rộng ra, cao nguyên Lâm Đồng là "tháp nước" cho nhiều nhà máy điện và hệ thống thuỷ lợi ở các tỉnh phía dưới.

Điều đó có nghĩa là việc điều tiết nước ở thượng nguồn luôn phải cân nhắc nhiều lợi ích: điện cho lưới quốc gia, nước tưới cho đồng bằng, nước sinh hoạt và tưới rau cho chính người dân cao nguyên, và an toàn khi có lũ. Các quy trình vận hành liên hồ chứa do cơ quan có thẩm quyền ban hành, đơn vị vận hành phải tuân thủ.

Người dân Đơn Dương không cần nhớ chi tiết các quy trình đó, nhưng biết bức tranh này giúp hiểu vì sao mực nước hồ không lúc nào cũng cao, vì sao có lúc hồ xả lũ, và vì sao mọi dự án mới liên quan tới sông Đa Nhim đều được nhiều nơi để ý.

Với học sinh, sinh viên trong vùng, Đa Nhim còn là một bài học địa lý sống động ngay cạnh nhà: một con sông chảy về phía tây nam nhưng phần lớn nước của nó lại được đưa sang phía đông; một vách núi biến thành nguồn năng lượng; một thung lũng biến thành mặt hồ. Hiểu công trình này là hiểu vì sao vùng cao nguyên và vùng duyên hải bên dưới gắn với nhau chặt hơn ranh giới hành chính trên bản đồ, nhất là khi cả hai từ năm 2025 đã thuộc hai tỉnh mới khác nhau là Lâm Đồng và Khánh Hoà.

Những hiểu lầm thường gặp về Đa Nhim

"Đơn Dương có nhà máy điện nên điện ở đây rẻ hơn." Không đúng. Điện từ Đa Nhim hoà vào lưới quốc gia, giá điện bán lẻ cho hộ dân và cơ sở sản xuất ở Đơn Dương áp theo biểu giá chung cả nước, không có giá riêng vì ở gần nhà máy.

"Nước hồ Đa Nhim tưới cho cả vùng rau Đơn Dương." Chỉ một phần nhỏ ven hồ. Phần lớn nước hồ được dẫn sang phía đông chạy máy rồi xuống đồng bằng. Vườn rau trong thung lũng chủ yếu dùng nước sông suối, ao, giếng và hồ thuỷ lợi nhỏ.

"Đập Đa Nhim là đập rất cao." Điểm đặc biệt của Đa Nhim không nằm ở chiều cao đập mà ở chênh lệch độ cao giữa mặt hồ trên cao nguyên và nhà máy dưới chân đèo. Cột nước lớn có được nhờ địa hình vách dốc, không phải nhờ thân đập.

"Hồ Đa Nhim là hồ tự nhiên." Đây là hồ nhân tạo, hình thành khi đập chặn sông Đa Nhim và tích nước từ thập niên 1960. Trước đó, khu vực này là thung lũng sông với ruộng và xóm làng.

"Có thể vào tận nhà máy từ phía Đơn Dương." Nhà máy ở dưới chân đèo, phải đi xuống đèo Ngoạn Mục mới tới khu vực đó, và đây cũng là công trình được bảo vệ, không phải điểm tham quan tự do.

"Thuỷ điện làm nước sông Đa Nhim cạn hẳn phía dưới đập." Phía hạ du trên cao nguyên, lưu lượng sông sau đập phụ thuộc vào cách vận hành và các suối nhánh đổ về. Có những đoạn sông chảy yếu trong mùa khô; mức độ cụ thể khác nhau theo năm và theo quy trình vận hành.

Câu hỏi thường gặp

Nhà máy thuỷ điện Đa Nhim có nằm ở Đơn Dương không?

Không. Phần nằm ở Đơn Dương là đập và hồ chứa, thuộc khu vực xã D'Ran mới. Nhà máy phát điện đặt ở chân đèo Ngoạn Mục, thuộc vùng Ninh Sơn của tỉnh Ninh Thuận cũ, nay là tỉnh Khánh Hoà. Hai phần nối với nhau bằng đường hầm xuyên núi và đường ống áp lực.

Hồ Đơn Dương và hồ Đa Nhim có phải là một không?

Là một. Hồ chứa của công trình thuỷ điện Đa Nhim được gọi theo tên sông là hồ Đa Nhim, còn người địa phương và khách đi đường hay gọi theo tên vùng là hồ Đơn Dương. Hai tên chỉ cùng một mặt nước nằm phía D'Ran – Lạc Xuân.

Có được vào tham quan đập Đa Nhim không?

Đập và các hạng mục điều tiết là công trình quan trọng, thuộc diện bảo vệ. Khách chỉ nên ngắm từ những đoạn đường công cộng, không vượt rào, không vào khu vực có biển cấm, không bay thiết bị bay khi chưa được phép. Nếu có nhu cầu tham quan có tổ chức, cần liên hệ trước với đơn vị quản lý công trình.

Công trình Đa Nhim được xây từ khi nào?

Công trình được xây dựng vào đầu những năm 1960 bằng nguồn vốn bồi thường chiến tranh của Nhật Bản, với sự tham gia của kỹ sư và nhà thầu Nhật, và bắt đầu phát điện từ năm 1964. Sau năm 1975 nhà máy được khôi phục, tiếp tục vận hành, gần đây có đầu tư mở rộng và thay mới thiết bị.

Nước sau khi chạy thuỷ điện Đa Nhim đi đâu?

Nước sau tua-bin không quay về cao nguyên mà chảy xuống vùng đồng bằng phía đông, góp vào hệ thống thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu cho vùng khô hạn quanh Phan Rang. Vì thế công trình vừa có ý nghĩa về điện, vừa có ý nghĩa về nước cho nông nghiệp vùng duyên hải.

Vì sao đi đèo Ngoạn Mục thấy những ống to chạy dọc sườn núi?

Đó là đường ống áp lực của thuỷ điện Đa Nhim. Nước từ hồ trên cao nguyên qua đường hầm xuyên núi ra tới mép vực, rồi đổ vào các ống thép này để rơi xuống nhà máy ở chân đèo. Độ chênh lớn tạo áp lực cao, giúp quay tua-bin phát điện.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.