DonDuong.comĐơn Dương
Kinh tế, thuỷ điện và chăn nuôi

Vòng rau và bò ở Đơn Dương: phân chuồng, phụ phẩm, biogas và chuyện mùi

Rau loại nuôi bò, phân bò bón lại ruộng rau: vòng tuần hoàn này giúp nông hộ Đơn Dương giảm chi phí, nếu xử lý đúng. Cách ủ phân, làm biogas và tránh ô nhiễm khe suối.

Overhead view of a farmer turning a large pile of composting manure with a pitchfork beside a vegetable field, small biogas dome nearby, misty highland morning

Ở Đơn Dương, rau và bò sữa không phải hai nghề tách rời mà là hai nửa của một vòng: phụ phẩm rau thành thức ăn cho bò, phân bò được ủ hoai rồi bón lại ruộng rau. Làm đúng, vòng này giúp nông hộ giảm tiền mua thức ăn và phân bón, đồng thời giảm lượng rác hữu cơ bỏ ra môi trường. Làm sai, nó thành nguồn mùi hôi, ruồi nhặng, ô nhiễm khe suối và mầm bệnh cho cả người lẫn cây.

Chuyện này nghe như kỹ thuật nông trại nhưng thật ra là chuyện kinh tế: phân bón và thức ăn là hai khoản chi lớn nhất của nghề rau và nghề bò. Tận dụng được bao nhiêu thì lợi nhuận tăng bấy nhiêu.

Bài này giải thích vòng rau – bò vận hành ra sao, các cách xử lý phân phổ biến, những sai lầm thường gặp, và quy định chung về chất thải chăn nuôi người nuôi cần biết.

Vòng tuần hoàn hoạt động thế nào

Mỗi vụ rau để lại một lượng lớn phụ phẩm: lá già bóc ra khi thu bắp cải, cà rốt cong, nứt, nhỏ không đạt chuẩn, rau dập khi vận chuyển, thân cây sau thu hoạch. Phần lớn những thứ này không bán được. Nếu bỏ ra bờ ruộng, chúng thối rữa, sinh ruồi và mùi, có khi trôi xuống suối khi mưa.

Bò sữa thì cần thức ăn xanh mỗi ngày, nhiều tới mức nhiều hộ phải mua cỏ. Đưa phụ phẩm rau phù hợp cho bò ăn là biến chi phí xử lý rác thành khoản tiết kiệm thức ăn. Bò ăn vào, thải ra phân và nước tiểu, một lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng rất lớn.

Phân bò sau khi ủ hoai là phân hữu cơ quý cho đất trồng rau: tăng mùn, giúp đất tơi xốp, giữ ẩm, nuôi vi sinh vật đất. Đất thâm canh rau nhiều năm bằng phân hoá học dễ chai, chua, nghèo mùn; bổ sung phân hữu cơ là cách phục hồi được nhiều người trồng rau ở Lạc Lâm, Ka Đô áp dụng. Vòng khép lại khi rau mọc trên đất được bón chính phân của con bò đã ăn lá rau vụ trước.

Những thứ không nên đưa vào vòng

Rau vừa phun thuốc chưa qua thời gian cách ly. Đưa cho bò ăn có thể dẫn tới tồn dư trong sữa và gây hại cho bò. Phải biết rõ ruộng nào phun gì, khi nào.

Rau thối mốc nặng. Nấm mốc có thể sinh độc tố, gây bệnh cho bò. Phần thối nên đưa vào đống ủ phân thay vì máng ăn.

Bao bì, dây nilon, màng phủ lẫn trong phụ phẩm. Bò nuốt phải nilon có thể tắc ruột; nilon lẫn vào phân ủ thì đem rải ra ruộng thành rác đất. Cần nhặt sạch trước khi dùng.

Phân tươi bón thẳng cho rau ăn lá. Phân chưa ủ hoai chứa vi khuẩn gây bệnh đường ruột, trứng giun sán, hạt cỏ dại, và khi phân huỷ trong đất có thể làm hại rễ cây. Với rau ăn sống càng không được.

Nước thải chuồng cho chảy tự do ra suối. Ngoài vi phạm quy định, việc này làm ô nhiễm nguồn nước mà chính các hộ phía dưới dùng để tưới rau.

Các cách xử lý phân bò phổ biến ở nông hộ

Không có cách nào hoàn hảo cho mọi hộ. Bảng so sánh dưới giúp chọn theo quy mô đàn, diện tích đất và vốn.

Cách làmƯu điểmHạn chế
Ủ đống có mái che, đảo định kỳRẻ, dễ làm, ra phân hoai tơi xốpCần chỗ rộng, công đảo trộn, phải che mưa để không trôi chất dinh dưỡng
Ủ với chế phẩm vi sinhHoai nhanh hơn, giảm mùiTốn thêm chi phí chế phẩm, vẫn phải làm đúng độ ẩm
Hầm biogasGiảm mùi rõ, có khí đốt cho bếp, nước sau hầm dùng tưới được khi pha loãngVốn đầu tư ban đầu, hầm có thể rò, quá tải khi đàn tăng
Đệm lót sinh họcChuồng khô, ít mùiHợp với chăn nuôi heo, gà hơn bò sữa quy mô lớn
Bán phân cho người trồng rauCó thêm tiền, giải phóng chỗ chứaPhân tươi bán đi vẫn cần được ủ trước khi bón

Nhiều hộ kết hợp hai, ba cách: phần lỏng vào hầm biogas, phần rắn đem ủ đống, phân hoai bón ruộng nhà, phần dư bán cho hàng xóm trồng rau.

Ủ phân bò thành phân hoai: các bước cơ bản

Quy trình dưới là nguyên lý chung mà cán bộ khuyến nông hay hướng dẫn. Chi tiết như liều chế phẩm, thời gian đảo nên theo hướng dẫn của sản phẩm và cán bộ kỹ thuật địa phương.

  1. Chọn chỗ ủ cao ráo, có mái che hoặc phủ bạt, xa giếng nước và khe suối, nền nện chặt hoặc lót để nước rỉ không ngấm thẳng xuống đất.
  2. Trộn phân bò với chất độn khô như rơm, trấu, mùn cưa, lá khô, thân cây rau đã băm để cân bằng độ ẩm và tỷ lệ chất hữu cơ.
  3. Giữ độ ẩm vừa phải: nắm một nắm thấy ẩm tay nhưng không chảy nước. Khô quá thì vi sinh vật không làm việc, ướt quá thì đống phân yếm khí, bốc mùi.
  4. Đánh đống thành luống, phủ kín. Sau một thời gian, đống phân nóng lên rõ do vi sinh vật phân giải, nhiệt độ này giúp diệt một phần mầm bệnh và hạt cỏ dại.
  5. Đảo trộn định kỳ để cung cấp không khí và cho phần ngoài vào trong, bổ sung nước nếu khô.
  6. Phân hoai khi có màu nâu sẫm, tơi, không còn mùi hôi nồng, không còn nhận ra hình dạng phân tươi. Lúc đó mới đem bón ruộng.

Biogas: lợi ích thật và những điều hay bị bỏ qua

Hầm biogas từng được khuyến khích rộng rãi ở các vùng chăn nuôi, Đơn Dương cũng không ngoại lệ. Phân và nước thải chuồng được đưa vào hầm kín, vi sinh vật yếm khí phân giải, sinh ra khí đốt chủ yếu là mê-tan, dẫn về bếp nấu. Mùi chuồng trại giảm hẳn, bớt tiền mua gas, nước sau hầm ít mùi hơn và có thể pha loãng tưới cây.

Những điều hay bị bỏ qua: hầm được thiết kế cho một quy mô đàn nhất định; khi đàn tăng mà không mở rộng hầm, chất thải đi qua quá nhanh, phân giải không hết, nước ra vẫn hôi. Hầm cũ có thể nứt, rò khí, rò nước thải. Khí mê-tan dễ cháy, ống dẫn và van phải kiểm tra định kỳ, không dùng lửa gần nắp hầm.

Nước sau hầm biogas không phải nước sạch. Thải thẳng ra suối vẫn gây ô nhiễm. Cách tốt hơn là dẫn vào ao lắng, hồ sinh học hoặc dùng tưới cho cỏ, cây lâu năm sau khi pha loãng, tránh tưới trực tiếp lên rau ăn lá sắp thu hoạch.

Quy định chung và chuyện hàng xóm

Pháp luật về chăn nuôi và bảo vệ môi trường đặt ra yêu cầu về xử lý chất thải chăn nuôi theo quy mô: hộ nhỏ, trang trại vừa, trang trại lớn có mức yêu cầu khác nhau, từ cam kết xử lý đơn giản tới hồ sơ môi trường đầy đủ. Quy định cụ thể thay đổi theo thời gian; người nuôi nên hỏi Ủy ban nhân dân xã hoặc cán bộ môi trường, nông nghiệp ở xã về nghĩa vụ của mình.

Ngoài giấy tờ, chuyện mùi và ruồi là nguồn mâu thuẫn hàng xóm phổ biến ở những thôn có cả nhà ở, vườn rau lẫn chuồng bò. Chuồng sạch, phân được thu gom ủ kín mỗi ngày, rãnh nước thải có nắp đậy, trồng hàng cây chắn gió quanh chuồng là những việc làm giảm phần lớn phiền hà.

Khi Đơn Dương phát triển thêm du lịch ven đường, nhà vườn, homestay, việc giữ cảnh quan sạch quanh chuồng trại càng quan trọng. Một con đường làng có mùi hôi nồng sẽ làm mất khách dù cảnh đồi thông đẹp tới đâu.

Tính thử cái lợi của vòng rau – bò

Để thấy vì sao nhiều hộ ở Đơn Dương làm cả rau lẫn bò, có thể so sánh ba kiểu hộ. Đây là so sánh định tính, không phải số liệu khảo sát; mỗi gia đình nên tự điền con số của mình.

Kiểu hộKhoản phải mua ngoàiKhoản bỏ đi hoặc phải xử lýNhận xét
Chỉ trồng rauPhân hữu cơ, phân hoá học, giống, thuốcPhụ phẩm rau sau mỗi vụTốn tiền mua phân hữu cơ, phải lo dọn phụ phẩm
Chỉ nuôi bòCỏ hoặc thức ăn xanh, thức ăn tinhPhân và nước thải chuồngTốn tiền thức ăn xanh, phải lo xử lý phân
Vừa rau vừa bòGiảm bớt mua phân hữu cơ và thức ăn xanhPhần lớn phụ phẩm và phân quay vòng trong nhàCần nhiều công hơn, phải biết ủ phân, phối thức ăn đúng cách

Cái giá của mô hình kết hợp là công lao động và kiến thức. Một gia đình vừa chăm vườn rau, vừa vắt sữa hai cữ mỗi ngày sẽ rất bận; thiếu người thì việc nào cũng làm dở. Vì thế có nơi hình thành kiểu trao đổi giữa các hộ: nhà trồng rau để phụ phẩm cho nhà nuôi bò, đổi lại lấy phân hoai về bón, mỗi bên chuyên một việc mà vẫn khép được vòng.

Ví dụ giả định: một hộ trồng rau trước đây mua toàn bộ phân hữu cơ từ nơi khác. Sau khi đổi phụ phẩm lấy phân với hộ nuôi bò bên cạnh, khoản mua phân giảm đi đáng kể, đồng thời không còn phải thuê người dọn lá rau ra khỏi ruộng. Khoản tiết kiệm không lớn trong một vụ, nhưng cộng qua nhiều năm và cộng thêm đất tốt lên thì là lợi thật.

Rác nhà kính và bao bì: phần chưa khép được vòng

Vòng rau – bò xử lý tốt chất thải hữu cơ, nhưng vùng rau Đơn Dương còn một dòng rác khó hơn: màng phủ nilon, màng nhà kính cũ, dây buộc, ống tưới hỏng, khay ươm, bao phân và bao bì thuốc bảo vệ thực vật. Những thứ này không phân huỷ, không đưa vào đống ủ được. Đốt ngoài đồng sinh khói độc; vứt xuống khe suối thì trôi về hồ.

Bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng là loại cần xử lý riêng vì còn dư lượng hoá chất. Nhiều địa phương đặt bể chứa bao bì ở đầu ruộng, đầu thôn để gom lại và chuyển đi xử lý theo quy định. Người trồng rau nên bỏ bao bì vào đúng các bể này, không dùng lại để đựng thực phẩm, nước uống.

Màng nhà kính cũ và màng phủ có thể được thu gom bán cho cơ sở tái chế nếu được gom sạch, không lẫn đất quá nhiều. Đây là một mảng kinh doanh nhỏ đang có ở vùng rau. Việc tổ chức thu gom có hệ thống vẫn là chuyện cả cộng đồng và chính quyền xã cần làm tiếp, và cũng là phần chưa khép được của vòng tuần hoàn nông nghiệp ở Đơn Dương.

Câu hỏi thường gặp

Phân bò tươi có bón trực tiếp cho rau được không?

Không nên. Phân tươi chứa vi khuẩn gây bệnh đường ruột, trứng giun sán, hạt cỏ dại, và khi phân huỷ trong đất có thể làm hại rễ cây non. Với rau ăn lá, rau ăn sống càng phải tránh. Phân cần được ủ hoai trước khi bón, ủ đúng cách giúp diệt bớt mầm bệnh.

Ủ phân bò mất bao lâu thì dùng được?

Thời gian phụ thuộc vào cách ủ, chất độn, độ ẩm, nhiệt độ và có dùng chế phẩm vi sinh hay không. Cách tốt nhất là nhìn kết quả: phân hoai có màu nâu sẫm, tơi xốp, không còn mùi hôi nồng, không còn thấy hình dạng phân tươi. Nên hỏi thêm cán bộ khuyến nông về quy trình cụ thể.

Người trồng rau không nuôi bò có mua được phân bò không?

Có. Nhiều hộ nuôi bò ở Đơn Dương bán phân cho người trồng rau trong vùng. Khi mua phân tươi, người mua cần tự ủ hoai trước khi bón. Nếu mua phân đã ủ, nên xem kỹ độ hoai, độ lẫn tạp chất như nilon, đá, và hỏi rõ cách người bán đã ủ.

Hầm biogas có nguy hiểm không?

Khí biogas chủ yếu là mê-tan, dễ cháy, và trong hầm có thể có khí độc. Không xuống hầm khi chưa thông khí và không có người hỗ trợ, không dùng lửa gần nắp hầm, kiểm tra ống dẫn, van khí định kỳ. Sửa chữa hầm nên nhờ người có kinh nghiệm thay vì tự làm.

Vì sao chuồng bò có hầm biogas mà vẫn hôi?

Thường do hầm quá tải khi đàn tăng nhưng hầm không mở rộng, hầm cũ bị nứt rò, hoặc phân và nước thải không được dẫn hết vào hầm mà còn ứ đọng quanh chuồng. Nước sau hầm thải ra rãnh hở cũng gây mùi. Cần kiểm tra lại công suất hầm và đường dẫn chất thải.

Có hỗ trợ nào cho nông hộ làm biogas hay xử lý chất thải không?

Tuỳ từng thời kỳ, nhà nước và một số chương trình, dự án có hỗ trợ kỹ thuật hoặc một phần kinh phí cho xử lý chất thải chăn nuôi. Thông tin cụ thể nên hỏi cán bộ nông nghiệp ở Ủy ban nhân dân xã hoặc tổ chức khuyến nông của tỉnh Lâm Đồng ở thời điểm hiện tại.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.